Hướng dẫn

Từng tính năng theo từng bước, kèm ảnh chụp màn hình từ một hệ thống đang chạy. Giao diện trong ảnh chạy bằng tiếng Anh — đó là ngôn ngữ gốc của sản phẩm.

Ảnh chụp màn hình lấy từ phiên bản 0.46.0. Trên những màn hình được trình bày, không có gì thay đổi cho tới phiên bản 1.1.6. Thứ duy nhất trông khác đi là số phiên bản ở cuối thanh bên.

Tùy chỉnh & quản trị

Đây là nơi bạn chỉnh hệ thống cho vừa với công ty mình. Ngôn ngữ, logo và màu sắc thuộc về đây. Cũng thuộc về đây là những việc bạn ít khi làm rồi lại rất cần: một thông báo cho tất cả mọi người, một bản cập nhật, một kho lưu trữ. Ngoài việc gửi thông báo qua e-mail, cả khối này đều là một phần của Basic.

1

Bật các ngôn ngữ và tự dịch chúng

Ở mục “Settings → Language Settings” bạn chọn công ty mình cung cấp những ngôn ngữ nào. Có 30 ngôn ngữ để chọn.

Tiếng Anh luôn bật và không tắt được. Đó là ngôn ngữ mà hệ thống quay về khi một văn bản chưa có bản dịch.

Sau đó mỗi người dùng tự chọn ngôn ngữ mình làm việc, trong số những ngôn ngữ bạn đã bật, ngay trong menu riêng của họ.

Bản dịch không đi kèm bản cập nhật. Một bản cập nhật mang theo những văn bản tiếng Anh mới; bản dịch cho chúng thì bạn tự cung cấp.

Việc đó diễn ra trong hai bước. Với “Export JSON” bạn tải về một tệp chứa mọi văn bản tiếng Anh nằm cạnh bản dịch hiện có của bạn.

Bạn điền tệp đó theo nhịp của mình rồi nạp lại bằng “Import JSON”. Ô trống thì được bỏ qua, bản dịch đã có thì bị ghi đè.

Những chỗ giữ chỗ như {count} phải sống sót trong bản dịch. Một mục làm mất một chỗ giữ chỗ sẽ bị từ chối và giữ nguyên tiếng Anh. Hệ thống cho bạn biết đó là mục nào.

Thẻ “State of your language packs” cho bạn biết, theo từng ngôn ngữ, bạn đang ở đâu. Nó nêu ba trường hợp: đã dịch, chưa dịch và đã lỗi thời.

“Đã lỗi thời” là trường hợp đáng chú ý. Văn bản tiếng Anh đã đổi, bản dịch của bạn vẫn còn đó và giờ nói một điều khác.

Thẻ “Languages” với các ngôn ngữ dưới dạng nút bấm, tiếng Anh được bật vĩnh viễn.
Khung đỏ nằm trên tiếng Đức và trên “Save languages”. Tiếng Anh mang dấu “Always active”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Export translations” với ô chọn ngôn ngữ đích.
Hãy chọn ngôn ngữ đích trước, rồi tải về. Tệp này chứa văn bản tiếng Anh và bản dịch hiện có của bạn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Import translations” với tệp đã chọn.
Sau khi “Select file”, tên tệp hiện ra bên cạnh. Chỉ “Import JSON” mới nạp nó vào.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “State of your language packs” với tình trạng của tiếng Đức.
Trong thế giới ví dụ này, gói tiếng Đức đã đầy đủ. Con số bên trái lớn lên theo mỗi bản cập nhật mang thêm văn bản mới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Logo, favicon và màu sắc

Ở mục “Settings → CI Settings” bạn đặt logo, favicon và ba màu của mình.

Logo hiện ở thanh bên, bên dưới logo hệ thống. Khuyến nghị 400 nhân 160 điểm ảnh dưới dạng PNG hoặc SVG với nền trong suốt, tối đa 2 MB.

Favicon là hình nhỏ trên thẻ của trình duyệt. Khuyến nghị dùng SVG hoặc 64 nhân 64 điểm ảnh.

Ba màu đó là “Primary color”, “Accent color” và “Background color”. Màu thứ nhất tô các nút quan trọng, màu thứ hai tô biểu tượng và phần nhấn mạnh, màu thứ ba tô nền.

Hệ thống tự tính ra màu chữ và màu khi di chuột để chữ vẫn đọc được. Bạn chỉ cung cấp ba màu nền tảng.

Một ô để trống nghĩa là màu dựng sẵn được áp dụng. Khi đó ô vuông bên cạnh hiện màu đen, vì nó không thể hiện “không có màu”. Ghi chú bên dưới nói rõ điều đó.

Phần xem trước bên dưới các ô hiện màu của bạn trước khi bạn lưu. Chỉ “Save” mới làm chúng có hiệu lực cho tất cả mọi người.

“Restore defaults” đưa mọi thứ về như cũ. Việc đó cũng gỡ luôn logo và favicon đã tải lên.

Thẻ “Colors” với hai màu đã đặt và phần xem trước bên dưới.
Khung đỏ nằm trên hai nút xem trước. Chúng hiện ngay những màu bạn vừa nhập.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Logo công ty ở thanh bên, bên dưới logo hệ thống.
Khung đỏ nằm trên logo đã tải lên. Nó xuất hiện ngay lập tức và trên mọi trang.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Sáng và tối, và giao diện trên điện thoại

Hệ thống có một giao diện tối và một giao diện sáng. Bạn chuyển đổi trong menu riêng của mình ở cuối thanh bên.

Lựa chọn này thuộc về từng người dùng và được ghi nhớ. Một nhân viên xử lý có thể làm việc ở giao diện sáng trong khi đồng nghiệp làm ở giao diện tối.

Cũng trong menu đó có tình trạng sẵn sàng của bạn, ảnh đại diện, mật khẩu và ngôn ngữ của bạn.

Trên màn hình hẹp, giao diện tự sắp xếp lại. Bảng biến thành các thẻ xếp chồng, và thanh bên gấp lại sau biểu tượng ở góc trên bên trái.

Không có ứng dụng riêng. Địa chỉ vẫn như trên máy tính, và bạn đăng nhập theo đúng cách đó.

Menu cá nhân với các mục “Light mode” và “Dark mode”.
Khung đỏ nằm trên “Light mode”. Dấu tích bên cạnh cho thấy giao diện nào đang bật.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách ticket trong giao diện sáng.
Vẫn trang đó, vẫn dữ liệu đó. Chỉ màu sắc là khác.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn trang đó trong một cửa sổ hẹp, như trên điện thoại.
Trên điện thoại, danh sách được xếp chồng. Bạn mở thanh bên bằng biểu tượng ở góc trên bên trái.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Ngày và giờ viết theo cách của bạn

Trước khi bắt đầu: Quản trị viên và nhân viên xử lý được phép đổi các thiết lập chung. Mọi người khác đọc ngày tháng theo đúng cách được đặt ở đó.

Ở mục “Settings → General Settings” bạn tìm thấy thẻ “Date and time format”. Nó nằm ngay sau múi giờ.

Bốn lựa chọn tạo nên cách viết một ngày. “Date order” là thứ tự của ngày, tháng và năm.

“Date separator” là ký tự giữa các con số. Bạn có thể chọn dấu chấm, dấu gạch chéo hoặc dấu gạch nối.

“Clock” là cách xem giờ: 24 giờ, hoặc 12 giờ với AM và PM. “Time separator” là ký tự giữa giờ và phút.

Bên dưới bốn ô đó bạn thấy “This is how it looks”. Nó hiện kết quả trước khi bạn nhấp “Save”.

Thiết lập này áp cho cả bản cài đặt. Nó không phụ thuộc vào ngôn ngữ, và cũng không phụ thuộc vào từng người dùng.

Đó là có chủ ý. Một công ty viết ngày tháng theo một cách, và mọi đồng nghiệp đọc theo cùng cách viết đó.

Thiết lập gốc là ngày, tháng, năm với dấu chấm và cách xem giờ 24 tiếng. Nếu bạn không đổi gì thì không có gì thay đổi.

Cách viết đã chọn áp dụng ở mọi nơi hệ thống hiện một ngày. Điều đó gồm cả ticket, các danh sách, phần nhắc việc và thời gian đã ghi.

Việc xuất dữ liệu thì không bị ảnh hưởng. Ở đó ngày được viết là 2026-08-22, vì các chương trình bảng tính đọc dạng đó một cách chắc chắn.

Một ô để bạn gõ ngày vào thì không thuộc phạm vi này. Nó mở lịch của trình duyệt và giữ cách viết của trình duyệt.

Xem thêm trong thẻ: Bật các ngôn ngữ và tự dịch chúng

Thẻ “Date and time format” với bốn ô chọn và phần xem trước.
Khung đỏ nằm trên thứ tự và trên phần xem trước. Các ví dụ bên trong ô chọn chạy theo thứ tự bạn chọn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Chi tiết ticket ở thiết lập gốc: ngày, tháng, năm và cách xem giờ 24 tiếng.
Đây là một ticket chừng nào chưa có gì bị đổi. Ở trên là các mốc thời gian, ở dưới là các ngày của thời gian đã ghi.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn chi tiết đó sau khi chuyển sang tháng, ngày, năm với cách xem giờ 12 tiếng.
Vẫn ticket đó sau khi đổi. Các ngày đã ghi đi theo thiết lập đúng như các mốc thời gian ở phía trên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Thông báo bảo trì và sự cố

Trước khi bắt đầu: Thông báo trên trang đăng nhập là một phần của Basic. Việc gửi nó thêm dưới dạng e-mail là một phần của Professional.

Trang “Maintenance / Incident-Notification” nằm ở thanh bên. Ở đó bạn viết một thông báo mà mọi người đều thấy.

Thông báo hiện trên trang đăng nhập và ở khắp hệ thống. Nhờ vậy người ta đọc được nó trước cả khi đăng nhập.

Mục đích là tránh những ticket không cần thiết. Ai đã đọc thấy mạng đang hỏng thì không báo lại lần nữa.

Bạn soạn văn bản bằng cách nhấp chuột. Trước tiên hãy nhấp vào ô bạn muốn điền. Nó nhận một viền đỏ, và mọi thứ bạn đánh dấu sau đó sẽ vào ô ấy.

“Title / Subject” hiện ở đầu thông báo. “Body” hiện bên dưới. Nếu bạn gửi thông báo dưới dạng e-mail thì một cái thành dòng chủ đề và cái kia thành nội dung.

Có sẵn những câu mẫu làm khối xây dựng. Bạn có thể thêm câu của riêng mình ở “Text Modules” và thêm các hệ thống cùng dịch vụ của mình ở “Systems / Services”.

Với “Calendar (add date)” và “Time (add time)” bạn chèn một ngày và một giờ. Đó là cách thông báo trước một đợt bảo trì đã lên kế hoạch.

Công tắc ở phía trên bật và tắt thông báo. Nó còn hiện cho tới khi bạn tắt đi.

Bên cạnh đó còn một loại thông báo thứ hai. Nếu bạn biến một ticket thành sự cố diện rộng, nó cũng hiện trên trang đăng nhập và tự biến mất khi ticket được xử lý xong. Công tắc này không áp cho loại đó.

Với “Send as E-Mail” bạn gửi thêm chính văn bản đó tới một danh sách địa chỉ. Đó là phần thuộc về Professional.

Xem thêm trong thẻ: Sự cố hiện dưới dạng biểu ngữ và dưới dạng ghi chú trong thư trả lời tự động

Thẻ với các khối văn bản và các hệ thống của riêng bạn.
Khung đỏ nằm trên danh sách các hệ thống. Trong thế giới ví dụ này, danh sách gồm e-mail, VPN và một máy chủ tệp.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Tiêu đề và nội dung với các khối đã đánh dấu, ô “Body” đang hoạt động.
Khung đỏ nằm trên ô đang hoạt động và trên “Calendar (add date)”. Bên dưới ô có ghi ô nào đang hoạt động.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang đăng nhập với thông báo đã bật, chạy ngang trang.
Đây là cách một khách hàng đọc nó trước khi đăng nhập. “Dismiss” ẩn thông báo đi trong lần truy cập này.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn văn bản đó với “Send as E-Mail” đã đánh dấu và danh sách người nhận.
Khung đỏ nằm trên danh sách người nhận và trên “Send Mail”. Hãy ngăn cách nhiều địa chỉ bằng dấu phẩy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Cảnh báo sớm trước khi đĩa đầy

Hệ thống theo dõi dung lượng đĩa trên máy chủ và lên tiếng trước khi đĩa hết chỗ.

Có hai mức. Từ mức đã dùng 90 phần trăm bạn nhận một thông báo, từ 95 phần trăm là một cảnh báo.

Ai lo việc cập nhật thì thấy các con số và thấy phải làm gì. Thường thì những image cũ từ các lần cập nhật trước là phần chiếm chỗ lớn nhất.

Mọi người khác đang đăng nhập thì nhận một câu ngắn và một lời chỉ dẫn tới quản trị viên của họ. Họ chỉ thấy nó từ mức cảnh báo trở đi.

Không có gì trong số này hiện trên trang đăng nhập. Đĩa máy chủ đầy tới đâu thì không phải việc của ai trước khi họ đăng nhập.

Đĩa đầy không chỉ ảnh hưởng tới việc cập nhật. Tệp đính kèm, thư đến, cơ sở dữ liệu và bản sao lưu đều nằm trên cùng một đĩa.

Biểu ngữ với thông báo rằng chỗ trống đang hẹp dần.
Mức thứ nhất. Trong thế giới ví dụ này, 93 phần trăm đã dùng và còn trống 14 trên 200 GB.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn biểu ngữ đó với lời văn của mức cảnh báo.
Mức thứ hai ở 96 phần trăm. Bây giờ văn bản còn nêu tên những gì có thể bắt đầu hỏng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn sự việc đó trong cửa sổ của một nhân viên xử lý: một câu ngắn không kèm con số.
Những người không thể giải phóng chỗ trống thì không nhận con số. Câu văn nêu hậu quả và chỉ tới quản trị viên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Cập nhật chỉ bằng một nút bấm

Ở mục “Settings → Updates” bạn thấy phiên bản nào đang chạy và có bản mới hơn hay không.

Nếu có phiên bản mới, những gì nó mang lại được liệt kê bên dưới. Danh sách hiện mọi phiên bản bạn bỏ qua.

Trước khi cập nhật, hệ thống tự tạo một bản sao lưu. Bản này gồm cơ sở dữ liệu, các tệp đính kèm và các kho lưu trữ.

Sau đó nó kiểm tra xem còn đủ chỗ trống hay không. Một lần cập nhật cần cả image cũ lẫn image mới cùng lúc, nên nó đòi 10 GB.

Nếu không đủ, hệ thống từ chối cập nhật và nói rõ vì sao. Đó là tin tốt hơn so với việc bỏ dở giữa chừng.

Hệ thống hỏi trước khi bắt đầu. Trong lúc cập nhật, nó không truy cập được trong vài phút, nên hãy chọn một thời điểm vắng.

Nếu có gì đó trục trặc, hệ thống quay về phiên bản trước và tiếp tục chạy.

Nếu máy chủ của bạn không tới được nguồn cập nhật, hệ thống nói đúng như vậy. Nó không nói rằng bạn đang ở bản mới nhất.

Một bản cập nhật đưa cơ sở dữ liệu lên phiên bản mới thì không áp dụng bằng một nút bấm. Hệ thống cho bạn biết, và ghi chú phát hành nói rõ phải làm gì.

Thẻ “Version status” báo rằng hệ thống đang ở bản mới nhất.
Khung đỏ nằm trên thông báo. “Check now” hỏi ngay lập tức thay vì đợi tới lần kiểm tra kế tiếp.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn thẻ đó với một phiên bản đang có sẵn và ghi chú phát hành của nó.
Khung đỏ nằm trên “Install update”. Phía trên nó là những gì phiên bản mới mang lại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Câu hỏi xác nhận trước khi bắt đầu cập nhật.
Câu hỏi nêu tên phiên bản và nói rằng một bản sao lưu được tạo trước.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn thẻ đó khi không tới được nguồn cập nhật.
Khung đỏ nằm trên thông báo. Khi không có câu trả lời, hệ thống nói rằng nó không biết.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Lưu trữ những ticket đã đóng

Trước khi bắt đầu: “Delete from live DB” xóa hẳn các ticket khỏi cơ sở dữ liệu đang chạy. Hãy tải kho lưu trữ về và xem bên trong trước đã.

Ở mục “Settings → Archive” bạn đóng gói những ticket đã đóng của một khoảng thời gian vào một tệp. Nhờ vậy khối dữ liệu đang làm việc vẫn nhỏ.

Chỉ những ticket đã đóng mới chuyển đi. Một ticket còn mở trong cùng khoảng thời gian thì ở lại chỗ cũ.

“Preview” cho bạn biết trước khoảng thời gian đó gồm bao nhiêu ticket. Nó không ghi gì và không đổi gì.

“Create archive” dựng một tệp ZIP. Tệp này chứa các ticket cùng bình luận, lịch sử, trường tùy chỉnh và tệp đính kèm của chúng.

Tệp đó rồi nằm trong danh sách bên dưới, kèm khoảng thời gian, số lượng và kích thước. Bạn có thể dùng một thư mục con nếu muốn sắp theo năm.

Chỉ khi đó bạn mới quyết định các ticket có rời khỏi cơ sở dữ liệu đang chạy hay không. Riêng việc tạo kho lưu trữ thì không đổi gì cả.

“Restore” mang các ticket từ tệp trở lại. Những ticket mà số của chúng đã tồn tại thì được bỏ qua.

Việc khôi phục cần những nhóm và quy trình mà ticket tham chiếu tới. Nếu chúng thiếu, hệ thống nói rõ nó không ghép được cái gì.

“Delete archive file” chỉ xóa tệp. Các ticket trong cơ sở dữ liệu đang chạy thì không bị đụng tới.

Thẻ “Create archive” với hai ô ngày.
Khung đỏ nằm trên khoảng thời gian. Thư mục con là tùy chọn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn thẻ đó với kết quả của phần xem trước.
Trong thế giới ví dụ này, cả năm gồm hai ticket đã đóng. Phần xem trước không đổi gì cả.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách các kho lưu trữ kèm khoảng thời gian, số lượng, tệp đính kèm và kích thước.
Khung đỏ nằm trên hai thao tác động tới dữ liệu đang chạy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Câu hỏi được đặt ra trước khi các ticket rời cơ sở dữ liệu đang chạy.
Câu hỏi nói rằng bước này không thể hoàn tác.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
9

Điền các danh sách thả xuống của bạn từ một tệp

Ở mục “Settings → General Settings” bạn tìm thấy các danh sách thả xuống của hệ thống. Mỗi danh sách có thẻ riêng của nó.

Với bộ phận, chức danh và địa điểm còn có thêm đường đi qua một tệp. Cách đó đáng làm khi bạn thêm nhiều mục cùng lúc.

“Export JSON” tải danh sách về. Trên một bản cài đặt mới, việc này cho bạn cái khung rỗng để viết các mục của mình vào.

Tệp chứa một ví dụ cho thấy một mục trông ra sao. Ví dụ đó được bỏ qua khi bạn nạp tệp trở lại.

“Import JSON” tạo ra những gì còn thiếu. Những mục đã có thì được để yên.

Việc đổi tên thì không làm qua tệp được. Các ô trên trang này có sẵn cho việc đó, và dòng ghi chú màu đỏ nói rõ điều ấy.

Bạn dịch các mục sau đó trên trang ngôn ngữ. Tệp chỉ chứa tên tiếng Anh.

Danh mục cũng hoạt động y như vậy. Chúng thuộc về một nhóm, nên chúng nằm trên trang danh mục của nhóm đó.

Xem thêm trong thẻ: Danh mục chính và danh mục con cấu hình được tự do cho từng nhóm

Thẻ “Department” với các nút xuất và nhập.
Khung đỏ nằm trên hai nút đó. Câu màu đỏ phía trên cảnh báo đừng đổi tên qua tệp.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Tệp đã tải về, mở trong trình duyệt, với ví dụ và các mục.
Trong đó không có gì ngoài tên. Vì thế bất kỳ trình soạn thảo văn bản nào cũng sửa được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Nhóm & người dùng

Một nhóm là một trách nhiệm, không phải một thư mục. Nó có danh mục riêng, thời hạn riêng và thành viên riêng. Một khách hàng chỉ thấy đúng một nhóm. Mọi thứ còn lại quy về việc ai có tài khoản nào và tài khoản đó được làm gì.

1

Tạo và cấu hình nhóm

Nhóm nằm ở mục “Settings → Teams”. Danh sách ở bên trái, các thiết lập của nhóm bạn vừa nhấp thì ở bên phải. Con số sau tên là số thành viên của nhóm.

Một nhóm mới nhận tên của mình trong ô “Team name”. Bên dưới, “Copy categories from” cho bạn chọn một nhóm đã có, để nhóm mới khởi đầu với cùng bộ danh mục chính và danh mục con. “Create team” tạo ra nó.

Nhóm đầu tiên là nhóm mà khách hàng của bạn nhìn thấy. Mọi nhóm tiếp theo là nhóm chuyên môn nằm phía sau. Bắt người báo tự chọn đúng bộ phận là đòi hỏi quá nhiều: họ gửi cho nhóm đầu tiên, và từ đó việc được chuyển tiếp đi.

Bạn có thể đổi điều đó bất cứ lúc nào. Thẻ “Customer permissions” quyết định theo từng nhóm rằng khách hàng có được tạo ticket ở đó và có thấy ticket của chính mình hay không. Nếu thiếu một trong hai quyền, nhóm đó hoàn toàn không hiện ra với khách hàng.

Thẻ “Agent permissions” áp cho các nhân viên xử lý của nhóm này. Nó quyết định họ có được quản lý ticket, quản lý danh mục và xem báo cáo của nhóm này hay không.

Thẻ “Agents” chứa các thành viên. Dù tiêu đề như vậy, khách hàng của nhóm cũng nằm trong đó. Ô chọn phía trên cùng nút “Add Agent” thêm một người vào, “Remove” đưa họ ra. Ai được thêm vào hay bị đưa ra đều phải đăng xuất rồi đăng nhập lại một lần.

“Default e-mail language” là ngôn ngữ nhóm này viết. Nó được áp dụng khi một quy tắc thư chọn “Team default language”.

Công tắc “Active” đưa một nhóm ra khỏi hoạt động. Nhóm biến khỏi thanh bên và khỏi mọi ô chọn. Nhưng nó không bị xóa vì thế.

“Delete” chỉ gỡ một nhóm chừng nào chưa còn ticket nào đang mở. Nếu không, hệ thống nêu lý do và không làm gì cả.

Thẻ “Audit log” ghi lại mọi thay đổi của nhóm, kèm tên và thời điểm.

Basic chạy một nhóm. Professional không giới hạn.

Trang “Teams” với danh sách cả hai nhóm ở bên trái và các thiết lập của nhóm Helpdesk ở bên phải.
Các khung đỏ nằm trên hai nhóm. Nhấp vào một nhóm sẽ đổi những gì hiện ở bên phải. Con số ở mép là số thành viên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô “Team name” với một cái tên đã gõ vào, bên dưới là “Copy categories from” và nút “Create team”.
Hãy gõ tên, tùy ý tiếp nhận danh mục của một nhóm đã có, rồi bấm “Create team”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Các thẻ “Customer permissions” và “Agent permissions” với các công tắc của chúng.
Các khung đỏ nằm trên hai tiêu đề. Những công tắc này chỉ áp cho đúng nhóm này.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Agents” với ô chọn, nút “Add Agent” và các thành viên bên dưới.
Khung đỏ nằm trên “Add Agent”. Nhãn bên cạnh mỗi tên là vai trò, và thẻ này cũng chứa khách hàng của nhóm.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Audit log” với hai mục, mỗi mục kèm tên và thời điểm.
Khung đỏ nằm trên tiêu đề. Mỗi dòng nêu thay đổi, ai đã làm và làm khi nào.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Tạo quản trị viên và nhân viên xử lý

Tài khoản nằm ở mục “User management”. Danh sách hiện tên và tên đăng nhập, địa chỉ e-mail, nhóm kèm bộ phận bên dưới, và vai trò.

“New user” mở biểu mẫu. Tên, họ, tên đăng nhập và địa chỉ e-mail là bắt buộc. Ngoài ra còn cần hoặc một mật khẩu hoặc dấu tích “Send login details by e-mail”.

Với dấu tích đó, bạn không đặt mật khẩu nào. Người dùng mới nhận một bức thư kèm tên đăng nhập và một liên kết có thời hạn, rồi tự đặt mật khẩu của mình. Hệ thống không bao giờ gửi mật khẩu.

Vai trò quyết định mọi thứ còn lại. “Admin” và “Agent” đều là người dùng nội bộ và cùng tính vào một hạn mức. Một quản trị viên được làm nhiều hơn ngay từ đầu, nhưng từng quyền một đều có thể đổi.

Basic có hai chỗ cho người dùng nội bộ. Bạn chia thế nào là tùy bạn: một quản trị viên và một nhân viên xử lý, hoặc hai quản trị viên. Khách hàng không tính vào đó, họ không giới hạn ở cả hai phiên bản.

Khi có người rời đi, hãy nhấp biểu tượng lưu trữ trên dòng của họ. Tài khoản bị khóa, nên họ không đăng nhập được nữa.

Một tài khoản bị khóa chuyển sang khung nhìn “Archived” và mang nhãn “locked” ở đó. Nó không còn hiện trong khung nhìn “Active”.

Một tài khoản bị khóa không còn chiếm chỗ người dùng nội bộ nữa, và nó không xuất hiện trong ô chọn “Assign to” nào cả. Những ticket đã giao thì vẫn giữ nhân viên xử lý và tên của họ.

Trong khung nhìn “Archived”, chính cái nút đó tên là “Restore” và mở khóa tài khoản trở lại. Ở Basic thì việc đó lại cần một chỗ trống.

Hai biểu tượng ở giữa dùng để đặt lại mật khẩu và đăng nhập hai yếu tố. Mật khẩu mới khi đó hiện đúng một lần trên màn hình. Nó không được gửi đi đâu cả.

Trang “User management” với mọi tài khoản, vai trò của chúng và các thao tác trên từng dòng.
Các khung đỏ nằm trên “New user” và trên nút chuyển giữa tài khoản đang mở và tài khoản bị khóa. Nút này cho thấy khung nhìn nào trong hai khung đang mở.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Create new user” với các ô bắt buộc đã điền và các ô chọn cho nhóm, bộ phận, chức danh, địa điểm và vai trò.
Các khung đỏ nằm trên vai trò và trên phần mời. Vai trò là ô chọn duy nhất bắt buộc phải điền.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn hộp thoại đó với dấu tích đã đặt: ô mật khẩu bị vô hiệu hóa và ghi rằng người dùng tự đặt mật khẩu qua liên kết.
Với dấu tích đó, dấu sao trên ô mật khẩu biến mất. Chính ô đó nói ai là người đặt mật khẩu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Khung nhìn “Archived” với một tài khoản bị khóa, nhãn “locked” và nút “Restore”.
Các khung đỏ nằm trên nhãn và trên đường quay lại. Cả hai chỉ có trong khung nhìn này.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Khách hàng: tài khoản của những người gửi yêu cầu

Khách hàng không giới hạn ở cả Basic lẫn Professional. Họ không chiếm chỗ người dùng nội bộ nào.

Một tài khoản khách hàng ra đời theo ba đường. Bạn tạo nó ở mục “User management”. Bạn mời người đó qua thư. Hoặc bạn cho phép tự đăng ký.

Công tắc cho việc đó nằm ở mục “Settings → Security” trong thẻ “Self-registration”. Ngay từ đầu nó đang tắt. Khi bật, một liên kết “Register” hiện ra trên trang đăng nhập.

Ai tự đăng ký thì luôn nhận vai trò “Customer”. Không vai trò nào khác được cấp qua đường này.

Nếu không gửi được thư thì địa chỉ không xác minh được. Những tài khoản như vậy mang ghi chú “not confirmed” trong danh sách, để một nhân viên xử lý thấy được địa chỉ đó có thật sự thuộc về người đứng sau nó hay không.

Với một bộ phận hỗ trợ nội bộ thì tốt hơn là bạn cứ để yên công tắc đó. Nếu không, ai biết địa chỉ cũng tạo được một tài khoản.

Một khách hàng chỉ thấy vụ việc của chính mình. Thanh bên của họ ngắn: ticket của họ, một ticket mới, cơ sở tri thức. Họ không bao giờ được thấy phần cài đặt nào.

Họ được làm gì trong một nhóm thì được đặt trên chính nhóm đó. Nếu không có quyền tạo ticket ở đó thì nhóm ấy không tồn tại với họ.

Thẻ “Self-registration” với công tắc và ghi chú bên dưới.
Khung đỏ nằm trên công tắc. Đoạn chữ bên cạnh nói nó làm gì và chuyện gì xảy ra khi không gửi được thư.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn hệ thống đó, đăng nhập với tư cách khách hàng: một thanh bên ngắn và một danh sách ticket chỉ chứa vụ việc của chính cô ấy.
Cột “User” chứa cùng một cái tên trên mọi dòng. Một khách hàng không thấy gì không phải của mình, và phần cài đặt thì vắng mặt trên thanh bên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Vai trò và cách phân quyền

Có ba vai trò: “Admin”, “Agent” và “Customer”. Không tạo thêm được vai trò nào nữa. Bù lại, cái được tự do là từng quyền một.

Bạn có thể đổi tên và dịch ba vai trò đó, ở mục “Settings → General Settings” trên thẻ “Role”.

Còn một vai trò được làm gì thì nằm ở chỗ khác: ở mục “Settings → Security” trong thẻ “Permission concept”.

Mỗi dòng là một chức năng, mỗi cột là một vai trò. Một dấu tích là cho phép. Bên dưới tên là khóa nội bộ; bạn không cần tới nó để làm việc với trang này.

Danh sách khá dài. Nó trải từ quản lý người dùng qua quyền vào từng trang cài đặt cho tới việc ghi nhận thời gian.

Cột “Agent Team” là trường hợp đặc biệt. Nó chỉ dùng được khi dấu tích “Agent” đã đặt trên cùng dòng đó. Hãy chọn một nhóm ở đó và quyền này chỉ áp cho các nhân viên xử lý của nhóm ấy.

Không quyền nào lấy đi được khỏi vai trò “Admin”. Dấu tích lại xuất hiện sau khi lưu. Nhờ vậy không ai tự khóa mình khỏi chính hệ thống của mình.

Với “Save”, thay đổi có hiệu lực ngay lập tức. Ai bị ảnh hưởng sẽ nhận ra ở cú nhấp tiếp theo.

Thẻ “Permission concept” với bảng: mỗi dòng một chức năng, các cột cho quản trị viên, nhân viên xử lý, nhóm nhân viên xử lý và khách hàng.
Khung đỏ nằm trên dòng tiêu đề. Ô chọn trong cột “Agent Team” chỉ dùng được ở nơi dấu tích “Agent” đã đặt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Role” với ba vai trò, mỗi vai trò mang nhãn “Mandatory”.
Khung đỏ nằm trên ghi chú. Ba vai trò mang nhãn “Mandatory”, nên chúng đổi tên được nhưng không xóa được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Bộ phận, chức danh và địa điểm

Ba danh sách mô tả con người chứ không mô tả ticket: bộ phận, chức danh và địa điểm.

Chúng được tạo ở mục “Settings → General Settings” trong thẻ “Drop-down lists”. Cách dùng giống nhau cho cả ba.

Chúng được gán trên tài khoản. Trong biểu mẫu ở mục “User management”, các ô đó tên là “Department”, “Position” và “Location”.

Trong danh sách người dùng, bộ phận đứng bên dưới nhóm. Chức danh và địa điểm thì thấy được trong biểu mẫu của tài khoản.

Địa điểm còn có công dụng thứ hai. Trên ticket có một ô “Location”, và nó lấy từ cùng danh sách đó.

Mỗi danh sách trong ba danh sách đều có một mục bạn không xóa được. Nó tên là “None selected or available” và mang nhãn “Mandatory”.

Nếu bạn xóa một mục khác, mọi người từng mang mục đó sẽ chuyển sang mục thay thế ấy. Nhờ vậy không ai còn trỏ tới một thứ đã biến mất.

Bạn không dịch ở đây mà dịch một lượt trên trang dịch. Tên tiếng Anh là cái neo để các bản dịch treo vào.

Hộp thoại “Edit user” với các ô bộ phận, chức danh và địa điểm đã điền.
Các khung đỏ nằm trên ba ô đó. Chúng đứng cạnh nhóm nhưng nói một điều khác: nhóm nói ai xử lý ticket, bộ phận nói người đó làm việc ở đâu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách người dùng với cột “Team” chứa bộ phận bên dưới tên nhóm.
Khung đỏ nằm trên cột đó. Nhóm ở trên, bộ phận ở dưới. Ai không thuộc nhóm nào thì chỗ đó là một dấu gạch.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Tích hợp e-mail

Hệ thống ticket lấy thư từ một hộp thư và cũng tự gửi thư đi. Cách thiết lập việc đó nằm ở thẻ “Ticket từ e-mail, thư trả lời và thư tiếp theo” trong khối Quản lý ticket. Khối này cho thấy một thư đến sẽ trở thành gì, bạn chặn người gửi ra sao, và hệ thống tự gửi những thư nào. Toàn bộ kênh thư thuộc về phiên bản Professional.

1

Một e-mail sẽ trở thành gì

Chỉ có ở Professional

Khi có người viết tới hộp thư của một nhóm, một ticket được tạo ra từ đó. Dòng chủ đề thành tiêu đề, phần chữ thành mô tả, và địa chỉ người gửi được ghi lại là người yêu cầu. Kênh trên ticket ghi “E-mail”.

Nếu bức thư có kèm tên người gửi thì tên đó vào ô bên cạnh địa chỉ. Nếu không có, ô đó ghi “E-Mail”. Bản thân kênh đã nói rằng việc này đến qua thư.

Những tiền tố như “Re:” hay “Fwd:” được cắt khỏi tiêu đề. Khi đó ticket mang tên của sự việc chứ không mang tên của một thư trả lời cho nó.

Định dạng của bức thư được giữ lại. Chữ đậm, danh sách và bảng hiện trong ticket đúng như trong thư.

Liên kết được giữ lại. Nhân viên xử lý của bạn nhấp được ngay trong ticket thay vì phải gõ lại địa chỉ.

Một hình ảnh nhúng trong thư vẫn nằm đúng chỗ của nó trong phần chữ. Nó cũng được lưu thành tệp đính kèm trên ticket.

Một hình ảnh mà bức thư chỉ nạp từ web thì bị gỡ bỏ. Những hình như thế thường báo ngược về cho người gửi biết bức thư được đọc khi nào và ở đâu. Ai muốn một hình ảnh tới nơi thì nên nhúng nó vào thư hoặc đính kèm.

Những tệp đính kèm trong thư trở thành tệp đính kèm trên ticket. Chúng tính vào cùng giới hạn kích thước như tệp do một nhân viên xử lý tải lên.

Nếu thư trả lời tự động được bật trong quy trình, người gửi nhận ngay một thư xác nhận. Với mã tham chiếu trong dòng chủ đề, mọi thư trả lời tiếp theo đều tìm lại đúng vụ việc đó và trở thành một bình luận trên nó.

Xem thêm trong thẻ: Ticket từ e-mail, thư trả lời và thư tiếp theo

Bức thư đã gửi, trong chương trình thư của người gửi, với một hình ảnh nhúng và một liên kết.
Cửa sổ này không phải hệ thống ticket, mà là chương trình thư của người gửi. Bức thư chứa một hình ảnh nhúng và một liên kết.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Phần mô tả của ticket sinh ra từ đó, với hình ảnh ở đúng chỗ và liên kết.
Vẫn bức thư đó dưới dạng ticket. Các khung đỏ nằm trên hình ảnh và trên liên kết. Cả hai đều ở đúng chỗ như trong thư, và liên kết nhấp được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Attachments” của ticket với tệp inline_image_1.png.
Hình ảnh nhúng cũng được lưu thành tệp đính kèm. Nhờ vậy có thể tải nó về mà không phải lôi ra khỏi phần chữ.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thư xác nhận trong hộp thư đến của người gửi, với mã tham chiếu trong dòng chủ đề.
Thư xác nhận đúng như khi nó tới người gửi. Dòng chủ đề mang mã tham chiếu của vụ việc. Nếu người gửi trả lời vào đó, thư trả lời rơi đúng vào ticket ấy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Chặn người gửi

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Danh sách chặn nằm ở dưới cùng trang “E-Mail Settings”. Nó áp cho mọi nhóm cùng lúc.

Có những người gửi không nên tạo ra ticket. Bản tin là một ví dụ, và những hộp thư chỉ gửi báo cáo máy móc là một ví dụ khác.

Hãy nhập một địa chỉ đầy đủ khi bạn muốn nhắm đúng một người gửi. Trong hình đó là no-reply@example.com.

Hãy nhập tên miền với dấu @ ở đầu khi bạn muốn nhắm mọi địa chỉ của một người gửi. Trong hình đó là @newsletter.example.net. Các tên miền phụ cũng bị chặn theo.

Một bức thư từ người gửi bị chặn thì không tạo ticket nào. Nó được đánh dấu là đã đọc và chuyển sang thư mục dành cho thư đã xử lý. Không có gì chất đống trong hộp thư đến.

Việc chặn cũng có tác dụng theo chiều ngược lại. Hệ thống không gửi thư nào tới một địa chỉ bị chặn.

Đó mới là điểm mấu chốt với những địa chỉ không ai đọc. Nếu không chặn, thư xác nhận sẽ đi tới một hộp thư không bao giờ trả lời.

“Add” đưa một mục vào danh sách. Biểu tượng thùng rác bên cạnh gỡ mục đó ra. Thay đổi có hiệu lực ngay lập tức, không có gì phải lưu.

Thẻ “E-Mail Blacklist” với hai mục: một địa chỉ đầy đủ và một tên miền.
Khung đỏ nằm trên ô nhập. Chỗ giữ chỗ của nó nêu cả hai dạng được phép. Bên dưới là hai mục của bản cài đặt này.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Hệ thống tự gửi những gì

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Các công tắc trên thẻ này nằm theo từng nhóm ở mục “Team mailboxes” trên trang “E-Mail Settings”, ngay bên dưới địa chỉ hộp thư của nhóm đó.

Ngoài những thư trả lời cho khách hàng, hệ thống còn tự gửi thư của mình. Trong đó có việc giao một ticket, một thời hạn bị vi phạm, một thư mời, một mật khẩu mới, phiếu khảo sát mức hài lòng và việc phê duyệt một yêu cầu.

Những văn bản này có sẵn và ban đầu bằng tiếng Anh. Chúng nằm trong gói ngôn ngữ cùng với mọi văn bản khác của giao diện.

Khi một gói ngôn ngữ đã được nhập vào, mỗi thư trong số đó đi ra bằng ngôn ngữ đặt trên người nhận. Vì vậy hai người trong cùng một vụ việc có thể nhận thư bằng hai ngôn ngữ.

Bạn đổi lời văn trên trang ngôn ngữ. Ở đó bạn tải văn bản của một ngôn ngữ về thành một tệp, sửa nó rồi tải lên lại. Tiếng Anh là bản gốc và giữ nguyên như cũ.

Việc giao ticket có được thông báo hay không thì quyết định theo từng nhóm. Ba công tắc nằm bên dưới hộp thư cho việc đó.

“Send assignment e-mails” gửi một bức thư cho nhân viên xử lý nhận được một ticket. Khi công tắc tắt, nhóm này hoàn toàn không thông báo việc giao ticket.

“Notify on self-assignment” quyết định có gửi thư hay không khi ai đó tự nhận một ticket. Công tắc này mặc định tắt.

“Send mail on ticket actions” có tác dụng ở chỗ khác. Khi bật, các hộp thoại đóng ticket, đổi trạng thái và chuyển giao sẽ mời gửi bình luận đó thêm dưới dạng thư.

Thư xác nhận gửi cho khách hàng thì không thuộc phần này. Bạn tự viết lời văn của nó, trong quy trình của hộp thư.

Xem thêm trong thẻ: Ticket từ e-mail, thư trả lời và thư tiếp theo

Phần “Assignment notifications” với ba công tắc.
Các khung đỏ nằm trên ba công tắc. Chúng thuộc về hộp thư của nhóm ở phía trên. Mỗi nhóm khác đều có ba công tắc riêng như vậy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Xác thực & bảo mật, gồm cả Single sign-on

Ai được vào và vào bằng cách nào thì quyết định ở hai nơi. Trang bảo mật quản việc đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu. Trang Single sign-on kết nối một thư mục hoặc một dịch vụ đăng nhập bên ngoài. Bạn có thể chạy cả hai cùng lúc.

1

Đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu

Trước khi bắt đầu: Các thiết lập trên thẻ này nằm ở mục “Settings → Security”. Chỉ quản trị viên mới thấy được trang đó.

Ngay từ đầu, mọi người đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu. Địa chỉ e-mail dùng được thay cho tên người dùng. Bên dưới biểu mẫu có một liên kết cho ai quên mật khẩu.

Sau khi đăng nhập, trình duyệt được cấp một thẻ truy cập có hiệu lực trong một khoảng thời gian đã đặt. Thẻ “JWT token timer” quyết định thời gian đó dài bao lâu. Cho phép các giá trị từ 1 tới 24 giờ, khuyến nghị là 12. Sau đó người dùng phải đăng nhập lại.

Thẻ “Password policy” áp cho mọi mật khẩu được đặt trong hệ thống. Nó được áp dụng khi tạo tài khoản, khi một người tự đổi mật khẩu và khi một quản trị viên đặt lại mật khẩu.

Bạn đặt độ dài tối thiểu, những loại ký tự nào phải có, sau bao nhiêu ngày thì mật khẩu hết hạn và bao nhiêu mật khẩu cũ vẫn bị chặn. Với số ngày và danh sách chặn, số 0 nghĩa là “tắt”.

Các quy tắc về chữ hoa và chữ thường không loại bỏ ngôn ngữ nào. Nhiều hệ chữ viết hoàn toàn không phân biệt như vậy, và một ký tự thuộc hệ đó tự nó thỏa mãn cả hai quy tắc.

Những tài khoản đăng nhập qua Single sign-on hoặc qua một thư mục thì không có mật khẩu cục bộ, nên việc hết hạn không áp cho họ. Quy tắc của họ nằm ở phía nhà cung cấp.

Thẻ “2FA Settings” bật đăng nhập hai yếu tố. Nó có hai công tắc. Công tắc trên đòi hỏi điều đó ở quản trị viên và nhân viên xử lý, công tắc dưới đòi hỏi ở mọi người, kể cả khách hàng. Nếu cả hai đều tắt thì đăng nhập hai yếu tố bị vô hiệu hóa.

Ai đăng nhập lần kế tiếp mà chưa có yếu tố thứ hai thì sẽ thiết lập ngay lúc đó. Hệ thống hiện một mã QR cho ứng dụng xác thực và cùng khóa đó dưới dạng chữ để gõ tay. Sau mã đầu tiên, yếu tố này bắt đầu có hiệu lực.

Ngay sau đó, mười mã khôi phục xuất hiện. Mỗi mã thay thế được một lần cho mã lấy từ ứng dụng. Chúng chỉ hiện đúng một lần.

Nếu ai đó mất thiết bị và mất luôn các mã của mình thì quản trị viên giúp. Trong danh sách người dùng, cái nút mang hình khiên bị gạch chéo sẽ đặt lại đăng nhập hai yếu tố của người đó. Họ thiết lập lại ở lần đăng nhập kế tiếp.

Các mã phụ thuộc vào đồng hồ của máy chủ. Nếu đồng hồ sai thì không mã nào được chấp nhận. Nút “Check now” trên cùng thẻ đó so giờ máy chủ với một nguồn giờ công cộng.

Nếu ai đó đăng nhập qua một dịch vụ đăng nhập bên ngoài, hệ thống không hỏi mã. Nhà cung cấp đã kiểm tra yếu tố thứ hai rồi. Đăng nhập qua thư mục thì khác: ở đó quy tắc phía trên vẫn áp dụng.

Trang đăng nhập với các ô “Username” và “Password” cùng nút “Sign in”.
Các khung đỏ nằm trên hai ô và cái nút. Ô phía trên cũng nhận địa chỉ e-mail.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “JWT token timer” với ô nhập số giờ.
Khung đỏ nằm trên ô đó. Nó nhận các giá trị từ 1 tới 24.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Password policy” với độ dài tối thiểu, các loại ký tự, thời hạn và danh sách chặn.
Các khung đỏ nằm trên ba ô số. Các ô đánh dấu phía trên quyết định những loại ký tự nào phải có.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “2FA Settings” với cả hai công tắc đang tắt.
Các khung đỏ nằm trên hai công tắc. Ở trạng thái được trình bày ở đây, đăng nhập hai yếu tố đang tắt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Màn hình thiết lập với một mã QR, một khóa để gõ tay và ô nhập mã đầu tiên.
Khung đỏ nằm trên khóa đó. Nó cũng chính là mã QR phía trên và giúp ích khi máy ảnh không đọc được gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Mười mã khôi phục xếp thành hai cột, bên dưới là “Copy codes”.
Khung đỏ nằm trên các mã. Chúng chỉ hiện đúng một lần. Các mã trong hình lấy từ một hệ thống thử nghiệm và không có giá trị gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách người dùng với cái nút đặt lại đăng nhập hai yếu tố.
Khung đỏ nằm trên hình khiên bị gạch chéo ở dòng của Marco Rossi. Một cú nhấp lấy đi ứng dụng và các mã khôi phục của anh ấy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Bảo vệ chống dò mật khẩu

Cơ chế bảo vệ này chạy mà không cần thiết lập gì. Không có gì để bật. Ghi chú về nó nằm trong thẻ “2FA Settings”.

Nó hoạt động theo hai mức. Sau năm lần thử hỏng cho cùng một tài khoản, địa chỉ nơi chúng xuất phát bị tạm dừng 15 phút. Từ mọi địa chỉ khác, tài khoản vẫn dùng được ngay.

Đó là phần quan trọng. Nếu không, ai biết một tên đăng nhập cũng có thể khóa một đồng nghiệp ra ngoài bằng năm mật khẩu sai. Họ chẳng cần biết mật khẩu nào cả.

Mức thứ hai là chính tài khoản. Nó bị khóa 15 phút sau hai mươi lần thử hỏng. Vì một địa chỉ đơn lẻ chỉ góp được nhiều nhất năm lần, việc đó cần tới nhiều địa chỉ.

Một lần đăng nhập thành công đặt lại cả hai bộ đếm. Sau khi máy chủ khởi động lại, phần tạm dừng theo địa chỉ biến mất, còn phần khóa tài khoản thì vẫn còn.

Trong danh sách người dùng, một tài khoản bị khóa theo cách này mang nhãn “temporarily locked”. Nó vẫn nằm trong danh sách. Sau 15 phút, nhãn tự biến mất.

Bạn không phải chờ. Ngay trên dòng đó có một cái nút hình ổ khóa đang mở. Nó gỡ khóa ngay lập tức và xóa cả hai bộ đếm.

Việc này không giống với “Archive”. Cái nút kia đóng hẳn một tài khoản, và chỉ nó mới chiếm hoặc giải phóng một chỗ người dùng nội bộ.

Ghi chú về việc bảo vệ chống dò mật khẩu trong thẻ “2FA Settings”.
Khung đỏ nằm trên ghi chú. Nó nêu cả hai mức: địa chỉ trước, tài khoản sau.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách người dùng với nhãn “temporarily locked” và nút mở khóa.
Các khung đỏ nằm trên nhãn và trên ổ khóa đang mở. Ổ khóa chỉ xuất hiện ở dòng nào có cái để gỡ.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Đăng nhập qua một thư mục hoặc một dịch vụ bên ngoài (Single sign-on)

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Các thiết lập nằm ở mục “Settings → SSO Settings”. Nếu chưa cấu hình nhà cung cấp nào thì trang đăng nhập không thay đổi gì.

Trên cùng là công tắc tổng “Enable single sign-on”. Chừng nào nó còn tắt thì vẫn là tên người dùng và mật khẩu. Mọi thứ bạn thiết lập bên dưới đều được lưu và chỉ có hiệu lực khi bạn bật nó lên.

Thẻ “Active Directory / LDAP” kết nối một thư mục tại chỗ. Bạn nhập máy chủ, gốc tìm kiếm, bộ lọc tìm ra một người, cùng các trường cho địa chỉ e-mail và cho tên.

Tài khoản dùng để tra cứu là tùy chọn. Nếu không có, hệ thống hỏi ẩn danh. Mật khẩu của một người chỉ được dùng để xác thực với thư mục và không bao giờ được lưu lại.

Một thư mục không mang theo yếu tố thứ hai của riêng nó. Nếu trang bảo mật đòi đăng nhập hai yếu tố thì những người này cũng được hỏi.

Thẻ “Identity providers” chứa các dịch vụ đăng nhập bên ngoài. Mỗi dịch vụ có ô riêng và nút riêng trên trang đăng nhập. “Add provider” tạo một dịch vụ mới.

Ở mục “Provider type” bạn chọn loại. “Generic OIDC Provider” hợp với những dịch vụ như Google Workspace, Microsoft Entra ID, Okta, Keycloak, Auth0 hay Ping Identity. “SAML 2.0 Provider” hợp với chính những nhà đó khi bạn muốn kết nối qua SAML.

Bên cạnh đó là sáu dịch vụ trong khu vực: LINE, Kakao, Naver, WeChat, WeCom và DingTalk. Địa chỉ của chúng được điền sẵn và hiện dưới dạng chữ xám trong ô.

Tên ở mục “Display name” về sau hiện trên nút bấm. Công tắc bên cạnh chỉ áp cho đúng nhà cung cấp này.

Với địa chỉ gọi lại, hãy làm theo thứ tự sau. Trước hết chỉ nhập một cái tên rồi nhấp “Save provider”. Chỉ khi đó hệ thống mới biết số của nhà cung cấp và hiện ra địa chỉ hoàn chỉnh ở mục “Redirect URI”.

Bạn sao chép địa chỉ đó rồi đăng ký nó ở phía nhà cung cấp. Ở đó nó phải khớp từng ký tự. Đổi lại, nhà cung cấp đưa cho bạn một ID và một khóa bí mật, và bạn nhập chúng vào đây qua “Edit”.

Ô “Allowed e-mail domains” giới hạn ai được vào qua nhà cung cấp này. Để trống thì mọi tên miền đều được phép.

Nếu một nhà cung cấp còn thiếu thứ gì đó, ô của nó mang nhãn đỏ “Incomplete”. Khi đó nó không hiện trên trang đăng nhập. Đoạn chữ bên cạnh nói loại của nó cần những trường nào.

Những nhà cung cấp đã cấu hình đầy đủ vẫn không hiện ra chừng nào công tắc tổng còn tắt. Ô của nó nói rõ điều đó trong một dòng màu vàng.

Thẻ “Single sign-on” với công tắc tổng.
Khung đỏ nằm trên công tắc tổng. Khi nó tắt, chỉ còn lại cách đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Active Directory / LDAP” với các ô đã điền.
Các khung đỏ nằm trên máy chủ, gốc tìm kiếm và bộ lọc tìm kiếm. Các giá trị trong hình lấy từ một hệ thống thử nghiệm.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hai ô nhà cung cấp, một ô đã cấu hình và một ô mang nhãn “Incomplete”.
Các khung đỏ nằm trên cả hai ô. Ô phía trên đã đầy đủ và chỉ còn chờ công tắc tổng. Ô phía dưới còn thiếu địa chỉ của nhà cung cấp.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Add provider” với loại, tên hiển thị, công tắc và địa chỉ của nhà cung cấp.
Khung đỏ nằm trên ô địa chỉ. Bên dưới nó, “Quick fill” điền sẵn những nhà cung cấp quen thuộc. Những gì nằm trong dấu ngoặc nhọn thì bạn thay trước đã.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại của một nhà cung cấp đã lưu, đang hiện địa chỉ gọi lại hoàn chỉnh.
Khung đỏ nằm trên địa chỉ gọi lại. Nó chỉ hình thành khi lưu và bắt đầu bằng địa chỉ của chính bản cài đặt của bạn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Tài khoản ở lần đăng nhập đầu tiên, và nhật ký

Chỉ có ở Professional

Công tắc “Automatically create accounts on first sign-in” nằm trong cùng thẻ với công tắc tổng. Mặc định nó đang bật.

Khi ai đó đăng nhập lần đầu qua một nhà cung cấp, hệ thống trước hết tìm một tài khoản đã thuộc về nhà cung cấp đó. Nếu không tìm thấy, một tài khoản mới được tạo ra.

Tài khoản mới nhận vai trò “Customer” và không thuộc nhóm nào. Một khách hàng không cần là thành viên nhóm để tạo ticket, nên họ làm việc được ngay.

Khách hàng không giới hạn ở cả hai phiên bản, nên một tài khoản tạo theo cách này không dùng chỗ người dùng nội bộ nào. Ai cần trở thành nhân viên xử lý thì được cấp vai trò sau đó trong phần quản lý người dùng.

Nếu đã có một tài khoản với cùng địa chỉ e-mail thì hai bên được nối lại với nhau. Việc này chỉ xảy ra khi nhà cung cấp báo rằng địa chỉ đã được xác minh. Nếu không, lần đăng nhập bị từ chối.

Nếu bạn tắt nó đi thì chỉ những người đã có tài khoản mới vào được. Mọi người khác bị từ chối.

Thẻ “Recent sign-in attempts” ở dưới cùng hiện 100 lần thử gần nhất. Nó ghi lại mọi đường đi trên trang này, kể cả đăng nhập qua thư mục.

Mỗi dòng nêu thời điểm, nhà cung cấp, kết quả và địa chỉ nguồn. Với một lần thử hỏng thì lý do đứng bên cạnh. Cột “E-mail” hiện địa chỉ khi nhà cung cấp có báo một địa chỉ, nếu không thì hiện cái tên đã được nhập.

Việc đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu không xuất hiện trong bảng này. Nó không phải Single sign-on.

Công tắc “Automatically create accounts on first sign-in”.
Khung đỏ nằm trên công tắc. Đoạn chữ bên dưới nêu vai trò mà một tài khoản như vậy nhận được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bảng “Recent sign-in attempts” với ba lần thử hỏng qua thư mục.
Khung đỏ nằm trên dòng trên cùng. Nó cho thấy một lần thử hỏng kèm lý do. Các mục trong hình lấy từ một hệ thống thử nghiệm mà thư mục của nó không tồn tại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Quản lý ticket

Nghề thường ngày: tạo ticket, sắp xếp chúng, tìm lại chúng. Mọi thứ trong khối này đều thuộc Basic, trừ khi một thẻ nói khác.

1

Tạo và sửa ticket

Trước khi bắt đầu: Một ticket đơn lẻ thì không xóa được — kể cả quản trị viên. Ticket chỉ rời cơ sở dữ liệu qua kho lưu trữ, và chỉ khi đã đóng. Đó là có chủ ý: một vụ việc mà ai đó gỡ đi được không để lại dấu vết thì vô giá trị với tư cách một hồ sơ.

Bạn tạo một ticket mới bằng “New Ticket” ở thanh bên trái. Biểu mẫu tên là “Create new ticket”. Với tư cách nhân viên xử lý, bạn cũng dùng nó để ghi nhận yêu cầu của người khác — ô “User” có mặt chính vì thế: nó nói vụ việc này dành cho ai, không nói ai đang gõ vào.

Mọi ô có dấu sao đều bắt buộc: “Title”, “User”, “Main category” và “Description”. Còn một ô nữa dễ bị bỏ sót: biểu mẫu sẽ không lưu nếu thiếu danh mục con, dù “Subcategory” không mang dấu sao — danh mục chính và danh mục con đi liền với nhau và luôn được đặt thành cặp.

Những ô nào xuất hiện và trong đó ô nào bắt buộc thì được đặt ở mục “Settings → Ticket Settings” — riêng cho nhân viên xử lý và riêng cho khách hàng. Vì thế khách hàng thấy một biểu mẫu ngắn hơn của bạn, mà không ai phải duy trì hai biểu mẫu.

Về sau bạn đổi được gần như mọi thứ: bên phải ticket là thẻ “Details” với người yêu cầu, điện thoại, e-mail, địa điểm, danh mục và số tham chiếu; bạn sửa chính cái ô đó rồi xác nhận bằng nút “Save” bên dưới. Trạng thái, mức ưu tiên, việc giao ticket, kênh và người theo dõi thì nằm cao hơn một thẻ, ở mục “Actions”, và có hiệu lực ngay lập tức, không cần lưu riêng.

Chỉ nhân viên xử lý và quản trị viên mới được đổi những thứ này. Người yêu cầu đọc được vụ việc, bình luận được và đính kèm được tệp — nhưng không đổi được cách phân loại mà báo cáo của bạn dựng trên đó.

Có một tác dụng phụ đáng biết một lần: nếu bạn sửa một ticket chưa thuộc về ai thì sau đó nó thuộc về bạn. Hệ thống ghi bạn là nhân viên xử lý và chuyển trạng thái từ “Open” sang “Assigned” — cả hai đều vào lịch sử. Nếu bạn không muốn vậy, hãy giao nó cho người khác sau đó.

Mỗi thay đổi trong số này đều rơi vào lịch sử của ticket, kèm tên, thời điểm, giá trị cũ và giá trị mới. Bạn không phải bật gì cho việc đó cả.

Còn lại câu hỏi làm sao bỏ bớt ticket đi. Ở mục “Settings → Archive” bạn chọn một khoảng thời gian, xem bằng “Preview” khoảng đó chứa bao nhiêu ticket đã đóng, rồi tạo một tệp ZIP bằng “Create archive”: ticket, bình luận, lịch sử, trường tùy chỉnh và tệp đính kèm, tất cả trong một tệp. Chỉ khi đó những ticket ấy mới biến khỏi cơ sở dữ liệu đang chạy — và chúng khôi phục lại được từ chính tệp đó.

Biểu mẫu “Create new ticket” với các ô Title, Owning team, User, trạng thái, mức ưu tiên và danh mục.
Biểu mẫu nằm sau “New Ticket”. Những ô có dấu sao là bắt buộc; danh mục, mô tả và tệp đính kèm nằm xa hơn ở bên dưới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Details” của một ticket với các ô về người yêu cầu và nút “Save” được đóng khung đỏ.
Đổi về sau: sửa ô, bấm “Save”. Bên dưới nó là dòng không đổi được, ghi ai đã tạo ticket và tạo khi nào.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Trình soạn thảo văn bản định dạng cho mô tả và bình luận

Phần mô tả và các bình luận không phải là ô chữ trơn. Mỗi ô đều có một thanh công cụ phía trên, và các nút nói rõ chúng làm gì khi bạn trỏ chuột vào: “Bold”, “Italic”, “Underline”, “Strikethrough”, “Text color”, “Highlight color”, “Bullet list”, “Numbered list”, “Quote”, “Link” và “Clear formatting”.

Một liên kết được tạo như thế này: chọn phần chữ, nhấp “Link”, gõ địa chỉ vào ô nhỏ hiện ra. Để trống thì liên kết bị gỡ đi. Địa chỉ web và địa chỉ thư được phép (http, https, mailto) — mọi thứ khác bị bỏ đi khi lưu, để một bình luận không thể lén đưa thứ gì qua mặt ai.

Hình ảnh vào qua bảng tạm: hãy chụp màn hình rồi dán thẳng vào trình soạn thảo bằng Ctrl+V. Ban đầu phần chữ chỉ hiện một dấu như “[inline-image:1]”. Khi bạn lưu, hệ thống tải hình lên và hiện nó đúng chỗ ấy — và hình cũng rơi vào thẻ “Attachments”, nơi chứa mọi tệp của vụ việc.

Cái bạn thấy chính là cái người khác thấy: định dạng, danh sách và liên kết được giữ trong ticket, và giữ cả trong bức thư gửi người yêu cầu. Mã đánh dấu lạ — chẳng hạn từ một trang web đã sao chép hay từ một e-mail đến — được cắt gọn về đúng bộ được phép này. Không đoạn chữ nào của bạn mất đi trong quá trình đó, chỉ có phần vỏ bọc.

Một bình luận có thể được đánh dấu nội bộ bằng “Only for Admin/Agents”. Khi đó nó mang nhãn “Internal” và người yêu cầu không thấy — ngay cả tìm kiếm cũng không đưa nó ra.

Thanh công cụ của trình soạn thảo, bên dưới là câu “The display shows ERROR 13.20 and then the paper jams.” với mã lỗi in đậm.
Đóng khung đỏ: “Bold”, “Bullet list” và “Link”. Thanh này nằm phía trên phần mô tả cũng như phía trên ô bình luận.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ba bình luận của một ticket, cái dưới cùng có một cụm in đậm và một danh sách gạch đầu dòng, cái ở giữa mang nhãn “Internal”.
Nó tới nơi đúng như thế này: chữ in đậm và danh sách được giữ lại. Bình luận ở giữa được đánh dấu “Internal” và người yêu cầu không thấy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Tệp đính kèm kèm phần xem trước

Trước khi bắt đầu: Được phép là PDF, DOC, DOCX, XLS, XLSX, TXT, PNG, JPG, JPEG và GIF, tối đa 50 MB mỗi tệp. Giới hạn này được ghi trong biểu mẫu (“Max. 50 MB per file”), và những tệp lớn hơn bị từ chối trước khi bắt đầu tải lên.

Tệp thuộc về vụ việc, không thuộc về một bình luận riêng lẻ. Trên ticket, thẻ “Attachments” dẫn tới danh sách: “Upload file” thêm một tệp, mỗi dòng nêu tên tệp, kích thước và ngày của nó. Ai có liên quan tới ticket đều được đính kèm — kể cả người yêu cầu; nhờ vậy không ai phải gửi thư kèm ảnh chụp màn hình cho bạn.

Một cú nhấp lên tên tệp mở phần xem trước, mà bạn không phải tải tệp về. Với hình ảnh, trong đó bạn phóng to, thu nhỏ và xoay được — tiện với một màn hình bị chụp nghiêng. Một tệp PDF hiện ngay trong cửa sổ đó, kèm phần xem tổng thể các trang, phóng to và in. Tệp văn bản thì hiện dưới dạng chữ. Với “Open in new tab” bạn mở tệp trong một cửa sổ riêng.

Một tệp đính kèm thuộc về vụ việc và đi theo nó: nó xuất hiện trong lịch sử (“File uploaded: …”), sống sót qua một lần chuyển giao sang nhóm khác, và nằm bên trong tệp lưu trữ khi ticket được lưu trữ.

Thẻ “Attachments” với hai tệp, phía trên là nút “Upload file” đóng khung đỏ.
Mọi tệp của một vụ việc ở cùng một chỗ. Dòng bên dưới nêu các loại tệp được phép và giới hạn kích thước.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Phần xem trước hình ảnh của một tệp đính kèm với các nút phóng to, thu nhỏ và xoay ở góc trên bên phải.
Phần xem trước một hình ảnh: phóng to, thu nhỏ, xoay — ở góc trên bên phải. Trong quá trình đó không có gì được tải về.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Phần xem trước một tệp PDF trong cùng cửa sổ, với phần xem tổng thể các trang ở bên trái và thanh công cụ của trình đọc PDF ở phía trên.
Một tệp PDF mở ra theo đúng cách đó — không tải về, kèm phần xem tổng thể các trang, phóng to và in.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Lịch sử ticket

Thẻ “History” trên ticket trả lời câu hỏi nằm sau mọi lần theo dõi tiếp: ai đã đổi cái gì, và đổi khi nào? Mỗi dòng nêu người, trường, giá trị cũ bị gạch ngang, giá trị mới đứng sau nó và thời điểm chính xác tới từng giây. Mục mới nhất nằm trên cùng.

Các mục được ghi mà bạn không phải làm gì — khi đổi trạng thái, mức ưu tiên, việc giao ticket, danh mục, địa điểm, người theo dõi, tiêu đề và mô tả, cũng như khi tạo ticket (“Ticket opened”), ở mỗi bình luận và ở mỗi tệp được tải lên. Con số trên thẻ cho bạn biết trước vụ việc này đã có bao nhiêu chuyển động.

Lịch sử không sửa được và không tắt được. Chính điều đó làm nó hữu ích: đó là lý do một ticket không xóa được từng cái một, và nó đi vào tệp lưu trữ khi ticket được lưu trữ.

Một bình luận xuất hiện ở đó dưới dạng rút gọn — nguyên văn nằm trong thẻ “Comments”. Một bình luận nội bộ cũng hiện trong lịch sử, nhưng chỉ với nhân viên xử lý và quản trị viên.

Thẻ “History” với các mục của ticket này: tệp, bình luận, những lần đổi trạng thái, mức ưu tiên, việc giao ticket và, ở dưới cùng, lần mở ticket — với hai dòng trên cùng do một quy tắc ghi.
Đóng khung đỏ là cái thẻ kèm con số. Ở “Status” và “Priority” bạn thấy giá trị cũ bị gạch ngang nằm cạnh giá trị mới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Quy trình trạng thái với trạng thái và bước chuyển cấu hình được

Trạng thái nói ticket hiện đang ở đâu. Hệ thống đi kèm mười hai trạng thái — Open, Assigned, In Progress, Waiting for User Response, Resolved, Closed và nhiều hơn. Bạn tìm thấy chúng ở mục “Settings → General Settings” trong phần “Drop-down lists” sau thẻ “Status”; “+ Add status” tạo một trạng thái của riêng bạn, “Edit status” mở một trạng thái đã có.

Phần quan trọng là khác biệt giữa cái tên và cái nghĩa. Trong trình sửa của một trạng thái, ở mục “Meaning of this status”, có ba công tắc: “Counts as resolved”, “Counts as closed” và “Waiting for the requester”. Chỉ những công tắc này mới nói cho hệ thống biết phải đối xử với một trạng thái ra sao.

Bạn được đổi tên mọi trạng thái, kể cả những trạng thái đi kèm hệ thống: ở cuối trình sửa, dưới mục “Translations”, có một ô “Name” cho mỗi ngôn ngữ — hãy đặt vào đó cái mà người của bạn nên đọc. Cái tên kỹ thuật nằm sau vẫn nguyên vẹn, và chính vì thế không có gì hỏng: tự động hóa, báo cáo và các công tắc phía trên đều bám vào cái tên đó, không bám vào nhãn của bạn. Nhờ vậy “Resolved” có thể thành “Done”.

Nhưng việc xóa thì không áp cho tất cả. Sáu trạng thái mang nhãn “Mandatory” trong danh sách — Open, Assigned, In Progress, Resolved, Closed và Reopened. Chúng đổi tên và sắp lại thứ tự được, nhưng không gỡ bỏ được; thử làm sẽ kết thúc bằng một thông báo rõ ràng. Điều đó không phải để làm phiền bạn: có những quy trình bám vào chúng và nếu không sẽ dừng lại mà không nói một lời — ví dụ việc đóng ticket tự động, vốn cần một trạng thái “đã xử lý” làm điểm xuất phát.

Hai trạng thái thuộc về chính hệ thống: “Waiting for approval” và “Rejected” mang nhãn “System only”. Chúng sinh ra từ một quy trình phê duyệt, và không ai nên có thể tự tay tuyên bố rằng một thứ chưa từng được đưa ra quyết định đã bị từ chối.

Ba công tắc đó làm gì: một trạng thái được tính là đã xử lý sẽ tự đóng ticket sau 24 giờ. Một trạng thái được tính là đã đóng là trạng thái cuối cùng mà ticket được chuyển vào. Và “Waiting for the requester” nghĩa đúng như vậy: chúng ta đang chờ người yêu cầu — không phải chờ một nhóm khác và không phải chờ một nhà cung cấp dịch vụ. Đó là cái dấu mà đồng hồ SLA dừng lại ở đó, nếu bạn thiết lập như vậy.

Bên dưới là “Allowed transitions to new status”. Ở đây bạn đánh dấu những trạng thái nào có thể đi tới từ trạng thái này. Để trống hết thì không có gì bị hạn chế; đánh dấu một thứ thì mọi đường khác bị đóng. Đó là cách bạn dựng một luồng không thể nhảy cóc — ví dụ: từ “Open” chỉ đi được sang “In Progress” hoặc “Rejected”, chứ không thẳng sang “Closed”.

Những công tắc còn lại trong trình sửa là chuyện nhỏ mà tác dụng lớn: màu dùng cho danh sách, “Sort order” cho thứ tự, “Show status in new ticket form” (trạng thái này có được chọn khi tạo ticket hay không?), “Requires comment in dialog” (bắt buộc nêu lý do) và “System only” cho những trạng thái chỉ chính hệ thống mới được đặt.

Phần thiết lập chung với thẻ “Status” đóng khung đỏ và danh sách mọi trạng thái.
“Settings → General Settings”, thẻ “Status”: mỗi trạng thái kèm tên kỹ thuật và các dấu của nó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Edit status” với các công tắc ở mục “Meaning of this status” và danh sách “Allowed transitions to new status”.
Trong trình sửa: hình thức và hành vi ở trên, ý nghĩa ở giữa, các bước chuyển được phép ở dưới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Danh mục chính và danh mục con cấu hình được tự do cho từng nhóm

Trước khi bắt đầu: Bạn cần ít nhất một nhóm. Trang danh mục được đặt tên theo nhóm của nó, nên nó chỉ tồn tại khi bạn đã tạo một nhóm.

Danh mục là thứ người yêu cầu hoặc nhân viên xử lý chọn khi tạo ticket — và là thứ mà về sau bạn gộp báo cáo của mình theo đó. Mỗi nhóm có bộ riêng: một bộ phận hỗ trợ sắp xếp theo những thứ khác với một bộ phận mạng, và không nhóm nào thấy danh sách của nhóm kia.

Bạn tìm thấy chúng ở mục “Settings” dưới dạng mục “<tên nhóm> Categories”. Trong ví dụ, nhóm tên là “Helpdesk”, nên mục đó ghi “Helpdesk Categories”.

Trang này có ba thẻ: “Main categories”, “Subcategories” và “Links”. Cách bắt đầu nhanh nhất: gõ tên tiếng Anh vào ô “EN (required)” rồi nhấp “+ New main category” hoặc “+ New subcategory”. Mọi thứ bạn dịch sau đó một lượt trên trang dịch — ở đây không phải chuẩn bị gì cho việc ấy.

Nếu bạn có nhiều danh mục phải làm, hãy đi đường qua tệp: “Export JSON” tải cái khung về — trên một hệ thống vừa cài thì tệp rỗng và chỉ cho bạn thấy bố cục. Bạn điền vào (bằng tay hoặc nhờ một AI), lưu lại rồi tải lên lại qua “Import JSON”. Đó không phải cách để đổi tên: bạn đổi một cái tên ngay trong ô của danh mục đó rồi xác nhận bằng nút “Save” bên cạnh — chính trang đó cũng nói vậy.

Thẻ thứ ba, “Links”, mới là nơi công việc thật sự diễn ra. Hãy chọn một danh mục chính ở trên, đánh dấu bên dưới những danh mục con thuộc về nó, rồi lưu bằng “Save links”. Cái hay là: một danh mục con có thể treo vào nhiều danh mục chính. Nhờ vậy bạn chỉ cần “Malfunction” một lần và dùng lại nó cho Máy in, Mạng, Phòng họp và Máy tính xách tay.

Từ đó trở đi, các danh mục sẵn sàng trong ticket. Việc xóa có thể thất bại chừng nào còn ticket đang dùng một danh mục — đó là có chủ ý, nếu không thì những ticket cũ sẽ mất cách phân loại của mình.

Nếu bạn chuyển giao một ticket sang nhóm khác thì cách phân loại của nó vẫn ở lại — kể cả khi nhóm mới hoàn toàn không có những danh mục ấy. Khi đó nó nằm trong ô cùng với xuất xứ của mình, ví dụ “Meeting-Room · từ Helpdesk”, và được làm mờ: nhóm mới thấy được vụ việc từ trước tới nay chạy dưới cái gì, nhưng không tự gán mục đó được. Muốn sắp lại thì bạn chọn từ danh sách của chính mình — và khi đó hệ thống muốn có một danh mục chính và một danh mục con đi cùng nhau.

Menu cài đặt đang mở với mục “Helpdesk Categories” đóng khung đỏ.
Ở mục “Settings”, mục này được đặt tên theo nhóm — ở đây là “Helpdesk Categories”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang “Settings · Manage categories” với các thẻ “Main categories” và “Subcategories”.
Đây là trang đó: danh mục chính bên trái, danh mục con bên phải. Thẻ “Links” nằm xa hơn ở phía dưới cùng trang — nó sẽ tới ngay sau đây.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô “EN (required)” chứa từ “Beamer” và nút “New main category”, cả hai đóng khung đỏ.
Từng cái một: tên tiếng Anh vào ô “EN (required)”, rồi nhấp “+ New main category” bên dưới nó. Trong thẻ “Subcategories”, nút đó tên là “+ New subcategory”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Main categories” với các nút “Export JSON” và “Import JSON” đóng khung đỏ.
Với nhiều mục cùng lúc: tải cái khung về, điền vào, tải lên lại. Thẻ “Subcategories” bên cạnh cũng có đúng hai nút đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Links”: “Printer” đang được chọn, các danh mục con Consumables, Malfunction và New request đã được đánh dấu.
Chọn “Printer”, đánh dấu các danh mục con phù hợp, bấm “Save links” — “Malfunction” đồng thời treo vào ba danh mục chính khác.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Ticket đã vào bằng đường nào

Mỗi ticket đều mang một kênh. Nó nằm trong biểu mẫu và về sau nằm trên thẻ “Actions” ở mục “How the request came in”, và nó trả lời một câu hỏi mau chóng trở nên quan trọng trong báo cáo: công việc đến qua cổng thông tin hay qua điện thoại?

Bạn chỉ chọn được cái mà một con người biết còn hệ thống thì không: “Phone” và “Entered by an agent”. Hai giá trị còn lại do chính hệ thống đặt — “Self-service” khi người yêu cầu tạo ticket trong cổng thông tin, và “Email” khi nó sinh ra từ một thư đến.

Đó cũng là lý do về sau bạn không chuyển được một kênh do hệ thống đặt sang “Phone”: cái ô đó sẽ mất đúng điều mà nó có mặt để nói. Ngược lại, trên một ticket được ghi nhận qua điện thoại thì bạn vẫn đổi được mọi thứ khác.

Chỉ nhân viên xử lý hoặc quản trị viên mới được đặt kênh. Với người yêu cầu thì đó sẽ là một lời khai về chính vụ việc của họ — và báo cáo sẽ phụ thuộc vào việc mọi người đều trung thực.

“Email” đòi hỏi một hộp thư đã kết nối, và đó là phần thuộc phiên bản Professional. Ba kênh còn lại có ở cả hai phiên bản.

Phần biểu mẫu với trạng thái, mức ưu tiên và ô “How the request came in” đóng khung đỏ.
Khi tạo ticket, kênh nằm giữa mức ưu tiên và người theo dõi. Chỉ “Phone” và “Entered by an agent” được mời chọn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Actions” của một ticket, ô “How the request came in” ghi “Phone” và được đóng khung đỏ.
Trên ticket, kênh nằm ở thẻ “Actions” — ở đây là một vụ việc mà nhân viên xử lý ghi lại sau một cuộc gọi.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
10

Chuyển giao một ticket sang nhóm khác

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Cả hai đường đều cần một nhóm thứ hai. Khách hàng không thấy gì trong đó: với họ, đây vẫn là một vụ việc với một con số, dù bao nhiêu nhóm đã làm.

Ticket có hai nút đứng cạnh nhau cho việc này, và khác biệt được in bằng chữ nhỏ bên dưới. “Involve another team”: bạn vẫn chịu trách nhiệm, nhóm kia làm song song với bạn trong một ticket được liên kết. “Escalate to another team”: nhóm kia tiếp nhận.

Khi bạn chuyển giao, trách nhiệm dời đi mà không sinh ra ticket thứ hai. Nhóm của bạn vẫn đọc được và vẫn bình luận được, nhưng không đổi được gì nữa — và hộp thoại nói đúng điều đó với bạn trước khi bạn xác nhận. Ở đó bạn chọn nhóm đích và có thể thêm một lý do.

Khi bạn mời một nhóm cùng làm, ticket của bạn vẫn nằm trong tay bạn và nhận một ticket con ở nhóm kia. Ticket của bạn chuyển sang trạng thái “Waiting for other team”; khi nhóm kia đóng ticket của họ, ticket của bạn quay lại với trạng thái “Back from other team”. Nhờ vậy bạn không phải hỏi xem bên kia có động tĩnh gì chưa.

Về cách phân loại: các danh mục của nhóm chuyển giao vẫn ở lại trên ticket, kể cả khi nhóm mới hoàn toàn không có chúng — ở đó chúng hiện kèm xuất xứ, được làm mờ. Nhờ vậy nhóm mới thấy được vụ việc từ trước tới nay chạy dưới cái gì, và sắp lại vào danh sách của mình nếu cần.

Chỉ ai đang chịu trách nhiệm lúc này mới được chuyển tiếp một ticket. Một chặng trước đó vẫn thấy vụ việc nhưng không chuyển nó đi lần thứ hai được.

Hai nút “Involve another team” và “Escalate to another team” đóng khung đỏ, kèm phần giải thích bên dưới.
Hai đường, tách bạch rõ ràng: để ai đó làm song song với bạn, hay chuyển giao hẳn. Khác biệt được in ngay tại nút.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Escalate to another team?” với phần chọn nhóm đích và ô “Reason (optional)”.
Hộp thoại nêu hậu quả trước khi bạn xác nhận: không có ticket thứ hai, quyền đọc vẫn còn, chỉ nhóm mới được đổi gì đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
11

Trường tùy chỉnh

Chỉ có ở Professional

Khi ticket của bạn còn thiếu một mẩu thông tin — mã tài sản, ngày hết bảo hành, trung tâm chi phí — bạn tự thêm nó vào. Ở mục “Settings → Ticket Settings”, dưới cùng, là thẻ “Custom fields”; cái nút tên là “Add custom field”.

Trong hộp thoại, bạn đặt một cái tên và một kiểu trường: “Text”, “Multiline text”, “Integer”, “Decimal”, “Date” hoặc “Yes / No”. Kiểu trường quyết định cái gì nhập được — một ô ngày sẽ không nhận “tuần sau”, và chính vì thế mà sau này bạn làm báo cáo trên nó được.

Ở mục “Scope” bạn quyết định trường này áp ở đâu: “All teams (including new ones)” hay “Selected teams only”. Lựa chọn đầu tiên bao gồm cả những nhóm chưa tồn tại — đúng loại khác biệt mà nửa năm sau bạn mới nhận ra.

Ba công tắc ở mục “Defaults” áp cho ticket mới: “Mandatory by default”, “Hidden for customer by default” và “Not editable by customer by default”. Chúng là giá trị mặc định — phần thiết lập trường trên cùng trang vẫn là nơi bạn đặt chính xác theo từng vai trò.

Trên ticket, các trường tùy chỉnh nằm trong một thẻ riêng, “Additional information”, giữa phần mô tả và phần bình luận. Nếu không dùng mẫu thì biểu mẫu hiện mọi trường tùy chỉnh của nhóm. Nếu bạn chọn một mẫu khi tạo ticket, nó hiện đúng những trường mà mẫu đó liệt kê, theo thứ tự của mẫu — “chỉ những trường vụ việc này cần”.

Ngoài ra, một mẫu có thể làm một trường thành bắt buộc, nhưng nó không gỡ được một quy tắc: cái mà quản trị viên đã ẩn khỏi khách hàng hoặc đã tuyên bố là bắt buộc thì vẫn giữ nguyên, kể cả khi một mẫu nói khác. Nếu không, mẫu sẽ trở thành đường thoát khỏi quy định của công ty.

Một nhóm được có bao nhiêu trường tùy chỉnh thì đặt ở mục “Settings → General Settings” trong thẻ “Custom fields limit”. Bạn bỏ một trường bằng “Deactivate”: nó biến khỏi biểu mẫu, nhưng giá trị của nó vẫn nằm trên những ticket cũ — công tắc “Show deactivated” đưa nó trở lại danh sách.

Thẻ “Custom fields” với hai trường và nút “Add custom field” đóng khung đỏ.
Danh sách các trường tùy chỉnh nằm ở mục “Settings → Ticket Settings”, dưới cùng trang.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “New custom field” với tên, kiểu trường, phạm vi và ba giá trị mặc định.
Tên, kiểu trường, phạm vi — một trường không cần gì hơn thế. Ba công tắc bên dưới là giá trị mặc định cho ticket mới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Additional information” trên một ticket với các trường “Asset tag” và “Warranty until”.
Nhân viên xử lý thấy các trường tùy chỉnh như thế này: một thẻ riêng trên ticket, ngay bên dưới phần mô tả.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
12

Người theo dõi

Chỉ có ở Professional

Đôi khi có người nên theo dõi một vụ việc mà không làm việc trên nó: trưởng nhóm trong một chuyện nhạy cảm, người đồng nghiệp tuần sau sẽ tiếp nhận. Người theo dõi có mặt vì thế. Trên ticket, ô “Observers” nằm ở thẻ “Actions”, cái nút tên là “Add observer”; biểu mẫu “Create new ticket” cũng có đúng ô đó.

Chỉ chọn được nhân viên xử lý và quản trị viên của một nhóm có tham gia. Một khách hàng không thể là người theo dõi — nếu không, họ sẽ nhận thư về công việc nội bộ.

Một người theo dõi nhận e-mail khi có gì đó xảy ra trên ticket: một bình luận mới, một trạng thái đã đổi, một lần giao mới, các trường đã đổi. Thư không gửi ngay mà được gộp lại: sau thay đổi cuối cùng, hệ thống chờ một phút rồi gửi MỘT bức thư bao trùm mọi thứ đã xảy ra trong khoảng đó. Nhờ vậy xử lý một ticket trong một mạch không làm bắn ra bảy bức thư.

Ai đang theo dõi cũng là một phần của lịch sử: một thay đổi được ghi lại như mọi thay đổi khác, kèm trạng thái cũ và trạng thái mới.

Thông báo này là một e-mail — nên việc gửi thư phải được thiết lập (Professional). Nếu không, bạn vẫn nhập được người theo dõi, nhưng không có gì đi ra cả.

Thẻ “Actions” của một ticket với ô “Observers” đóng khung đỏ, trong đó có một nhân viên xử lý.
Người theo dõi nằm ở thẻ “Actions”. Ticket này chưa giao cho ai — theo dõi và xử lý một ticket là hai chuyện khác nhau.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
13

Ticket từ e-mail, thư trả lời và thư tiếp theo

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Với Google/Gmail bạn cần một mật khẩu ứng dụng (và điều đó đòi phải bật đăng nhập hai yếu tố); Google từ chối thông tin đăng nhập tài khoản thông thường. Microsoft 365 hiện hoàn toàn không chạy được: ở đó xác thực cơ bản cho IMAP đã bị tắt, và mật khẩu ứng dụng cũng không giúp được gì.

Kênh thư là một con đường hai chiều, và hai chiều đó đi liền với nhau: một thư đến biến thành ticket, thư trả lời của bạn đi ra dưới dạng thư, và câu trả lời của người yêu cầu rơi vào chính ticket đó dưới dạng bình luận — không rơi vào một ticket thứ hai.

Việc ghép nối không làm theo cảm tính: một thư trả lời chỉ rơi vào ticket đã có khi bức thư mang mã tham chiếu của vụ việc trong dòng chủ đề hoặc mang theo các tiêu đề trả lời của chương trình thư. Một bức thư không có cả hai sẽ mở một vụ việc mới — thà thừa một ticket còn hơn gộp hai vụ việc không liên quan chỉ vì dòng chủ đề tình cờ khớp nhau.

Mọi thứ cho việc đó nằm ở mục “Settings → E-Mail Settings”. Thẻ phía trên, “SMTP settings”, là đường ra: máy chủ, cổng, “Use SSL”, người dùng và mật khẩu, cùng địa chỉ người gửi và tên người gửi. Với “Send test e-mail” bạn tự gửi cho mình một bức thư mẫu — lưu trước, rồi mới thử, đúng như chính cái thẻ đó nói.

Thẻ “IMAP settings” là đường vào: máy chủ, cổng, khoảng thời gian kiểm tra và hai thư mục. Bạn không phải đoán tên thư mục: “Read from server” lấy về những thư mục thật sự có trong hộp thư của bạn, “Create on server” tạo một thư mục mới. Khi đó ô này nhận đúng đường dẫn mà máy chủ thư của bạn dùng cho nó — máy chủ này viết “INBOX/Processed”, máy chủ kia viết “INBOX.Processed”, và cả hai cùng một nghĩa.

Thư đã xử lý chuyển vào “Processed folder”; để trống thì chúng ở lại trong hộp thư đến. Bên dưới đó bạn đặt lúc nào việc dọn dẹp chạy (“Hour”, “Minute”) và một bức thư được để lâu tới đâu (“Retention (days)”) — nếu không thì hộp thư cứ lặng lẽ phình ra.

Hộp thư thuộc về nhóm, không thuộc về hệ thống: ở mục “Team mailboxes”, mỗi nhóm nhập địa chỉ riêng của mình kèm mật khẩu. Địa chỉ đó đồng thời là người gửi cho thư của nhóm ấy — nhờ vậy người yêu cầu trả lời về đúng nơi mà thư được lấy đi.

Và bây giờ là phần mà nếu thiếu nó thì chẳng có gì trong số trên xảy ra cả: quy trình. Một hộp thư đã cấu hình, tự nó, không làm gì hết. Nếu một nhóm không có quy trình nào được bật thì hộp thư thậm chí không được kiểm tra — không ticket, không thư xác nhận, thư cứ nằm đó. Thư trả lời tự động gửi khách hàng chỉ tồn tại ở đây, và bạn tự thiết lập nó. Đó là có chủ ý: một hệ thống viết thư cho mọi địa chỉ người gửi mà không ai yêu cầu thì còn tệ hơn một hệ thống im lặng.

Ở mục “E-Mail workflows” bạn chọn nhóm ở phía trên rồi tạo một quy trình bằng “+ Add workflow”. Nó nhận một cái tên (chỉ dành cho bạn), một công tắc “Enabled” và hai lời khai về việc nó áp dụng khi nào: “Match” quyết định mọi điều kiện phải đúng (“All conditions”) hay chỉ cần một là đủ, còn “Stop after match” kết thúc lượt chạy ngay khi quy trình này khớp — khi đó một quy trình nằm dưới sẽ không bao giờ tới lượt. Bạn đổi thứ tự bằng các mũi tên bên cạnh.

Ở mục “When?” là chính cái điều kiện. “Every e-mail in this mailbox” nhận mọi bức thư; “Only when subject or text contains” đòi một từ trong dòng chủ đề hoặc trong nội dung. “Advanced” làm cho nó chính xác: ở đó bạn chọn cái gì được xem xét — “Subject or body”, “Subject”, “Body”, “Sender (From)” hay “Recipient (To/Cc)” — và so sánh ra sao: “Contains”, “Equals” hay “Regex”. Đó là cách bạn tách, chẳng hạn, những lượt báo gửi tới một địa chỉ dùng chung ra khỏi mọi thứ khác.

Bên dưới là năm hành động dưới dạng công tắc. Chúng mới là nội dung thật sự của quy trình — cái gì không bật lên thì không xảy ra:

“Create or append ticket” biến bức thư thành ticket — hoặc gắn nó vào một ticket đã có dưới dạng bình luận, khi mã tham chiếu nằm trong dòng chủ đề. Không có hành động này thì một bức thư không bao giờ thành một vụ việc.

“Set fields” đặt mức ưu tiên, trạng thái, danh mục chính và danh mục con, nhóm sở hữu và người được giao ngay lúc ticket được tạo. Mọi thứ để nguyên ở “— Keep default —” thì giữ như khi không có quy trình nào.

“Auto-reply” là thư xác nhận gửi người gửi — nơi duy nhất mà hệ thống tự trả lời. Khi công tắc này tắt, khách hàng của bạn không bao giờ nhận thư trả lời tự động, dù mọi thứ khác được đặt tốt tới đâu.

“Send mail” gửi thêm một bức thư: hoặc tới người gửi của thư đến, hoặc tới những thành viên nhóm đã chọn và những địa chỉ cố định. Nó có “Send conditions” riêng — để trống thì nó đi ra ở mọi lượt chạy của quy trình này.

“Move to folder” xếp bức thư đã xử lý vào một thư mục. Để trống ô này thì “Processed folder” chung ở phần thiết lập IMAP phía trên được áp dụng.

Chi tiết về hành động “Auto-reply”: bạn dựng dòng chủ đề từ các khối. “Original subject {originalSubject}” tiếp nhận dòng chủ đề của thư đến, “Ticket reference {ticketTag}” chèn mã tham chiếu của vụ việc — cùng nhau chúng cho ra một thứ như “Printer problem [TICKET-99]”.

Mã tham chiếu không tự thêm vào. Nó chỉ xuất hiện ở nơi bạn đặt {ticketTag} hoặc {ticketId} — và đó đúng là thứ mà về sau hệ thống nhận ra thư trả lời của khách hàng nhờ nó. Nếu nó không nằm trong dòng chủ đề thì mọi thư tiếp theo đều mở một ticket mới thay vì thành bình luận trên ticket cũ.

Đoạn chữ bên dưới là thư xác nhận của bạn. Hãy viết bằng tiếng Anh: nó đi qua đúng quy trình xuất/nhập như mọi văn bản khác, và chỉ như vậy nó mới dịch được sang các ngôn ngữ khác. Để trống thì hệ thống gửi thư mặc định của mình. Ở đây cũng được dùng chính những chỗ giữ chỗ ấy.

“Reply language” quyết định dòng chủ đề và phần chữ đi ra bằng ngôn ngữ nào: “Standard English” dùng tiếng Anh, “Fixed language” dùng một ngôn ngữ bạn chọn, “Assigned agent's language” dùng ngôn ngữ của nhân viên xử lý được giao, và “Team default language” dùng ngôn ngữ mặc định của nhóm. Còn bản dịch thì được chăm sóc trên trang ngôn ngữ.

Một lời khuyên mà hệ thống cũng in phía trên thẻ: mọi thứ thuộc về một vụ việc thì thuộc về MỘT quy trình. Chỉ những hành động nằm trong cùng một quy trình mới biết ticket vừa được tạo — vì thế thư xác nhận nêu được số của nó, còn một hành động từ quy trình thứ hai thì không.

Toàn bộ kênh thư — cả vào lẫn ra — thuộc về phiên bản Professional. Ở Basic, hệ thống không gửi và cũng không nhận e-mail; ở đó ticket được tạo qua cổng thông tin, qua điện thoại và qua nhân viên xử lý.

Thẻ “SMTP settings” với máy chủ, cổng, người dùng, mật khẩu, địa chỉ người gửi và nút “Send test e-mail”.
Đường ra. Mỗi ô đều mang phần giải thích bên dưới — các cổng 587 và 465 được nêu tên rõ ràng ở đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “IMAP settings” với các nút “Read from server” và “Create on server” đóng khung đỏ.
Đừng gõ tên thư mục, hãy lấy nó về: “Read from server” liệt kê những thư mục thật, “Create on server” tạo một thư mục mới bên dưới hộp thư đến.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Phần “Team mailboxes” với hộp thư của nhóm Helpdesk.
Mỗi nhóm một hộp thư. Địa chỉ này đồng thời là người gửi — vì thế nó nằm ở đây chứ không nằm trong phần thiết lập chung.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Một quy trình với tên của nó, “Match”, “Stop after match”, điều kiện ở mục “When?” và năm công tắc hành động đóng khung đỏ.
Năm hành động được đóng khung đỏ. Trong ví dụ này, “Create or append ticket”, “Auto-reply” và “Move to folder” đang bật — “Set fields” và “Send mail” đang tắt. Không có một quy trình như thế thì hộp thư hoàn toàn không được kiểm tra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hành động “Auto-reply” với ô dòng chủ đề đóng khung đỏ, các khối dựng, phần chữ tiếng Anh và phần chọn ngôn ngữ trả lời.
Dòng chủ đề chứa các khối “{originalSubject} {ticketTag}” — đó là thứ mà về sau hệ thống nhận ra thư trả lời của khách hàng nhờ nó. Bên dưới là phần chữ và ngôn ngữ trả lời, ở đây là ngôn ngữ của nhân viên xử lý được giao.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Trạng thái nhân viên xử lý (tình trạng sẵn sàng)

Mỗi nhân viên xử lý cho thấy ngay lúc này họ có sẵn sàng hay không, và khi bạn giao một ticket thì tình trạng đó đứng cạnh cái tên. Mọi thứ trong khối này đều thuộc Basic. Việc phân phối tự động biết bỏ qua nhân viên đang vắng là một tính năng riêng và thuộc Professional.

1

Sẵn sàng, bận, vắng mặt

Mỗi nhân viên xử lý có một trong ba tình trạng và tự đặt lấy, trong menu người dùng ở góc dưới bên trái thanh bên. Ba mục đó nằm dưới tiêu đề “Availability”.

Một chấm tròn cho thấy tình trạng. “Available” mang chấm xanh lá, “Busy” mang chấm vàng cam, “Away” mang một vòng rỗng.

Ba tình trạng khác nhau không chỉ ở màu mà còn ở phần tô, để người khó phân biệt màu vẫn thấy được khác biệt.

Chấm tròn của chính bạn nằm trên ảnh tài khoản ở góc dưới bên trái, nên bạn không phải mở menu ra mới thấy.

Khi bạn giao một ticket, tình trạng đứng sau cái tên. Nếu đã ghi một thời điểm kết thúc vắng mặt thì nó cũng đứng ở đó.

Một nhân viên xử lý không sẵn sàng thì vẫn chọn được và chỉ được đánh dấu như vậy. Ticket có đi tới họ hay không là quyết định của bạn.

Bạn chỉ luôn được mời chọn các nhân viên xử lý của nhóm mà ticket thuộc về.

Chỉ nhân viên xử lý và quản trị viên mới có tình trạng. Một khách hàng thì không có.

Xem thêm trong thẻ: Giao nhiều ticket cho một nhân viên xử lý cùng lúc

Menu người dùng ở thanh bên với ba tình trạng “Available”, “Busy” và “Away” cùng một dấu tích trên tình trạng hiện tại.
Menu người dùng của chính nhân viên xử lý. Ba tình trạng nằm trên cùng, tình trạng đang có hiệu lực mang một dấu tích. Chấm tròn ấy cũng nằm trên ảnh tài khoản bên dưới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô chọn “Assign to” trên một ticket, đang mở, với các nhân viên xử lý của nhóm và dấu “Away until” trên một mục.
Khung đỏ nằm trên mục của Lena Chen. Sau cái tên là tình trạng của cô ấy và thời điểm kết thúc vắng mặt. Cô ấy vẫn chọn được. Chỉ các nhân viên xử lý của nhóm mà ticket thuộc về mới được mời chọn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Nghỉ ốm và nghỉ phép do quản trị viên nhập

Người bị ốm thì hiếm khi kịp báo trước. Vì thế một quản trị viên đặt được tình trạng thay cho người khác, trong biểu mẫu sửa tài khoản ở mục “User management”.

Biểu mẫu có hai ô cho việc này. “Availability” chứa tình trạng, “Away until” chứa thời điểm kết thúc vắng mặt.

Ô thứ hai chỉ hiện ra với “Away”. Với “Busy” hay “Available” thì không có thời điểm kết thúc nào để nhập.

Không có ngày thì lần vắng mặt kéo dài tới khi ai đó kết thúc nó. Có ngày thì nó tự kết thúc. Dòng gợi ý bên dưới ô nói rõ: “Leave empty for an absence without a set end.”

Một ngày trong quá khứ thì không được nhận. Nó sẽ hết hạn ngay lập tức, và người đồng nghiệp của bạn vẫn đứng trong danh sách với tình trạng sẵn sàng.

Cả hai ô chỉ hiện ra với nhân viên xử lý và quản trị viên. Nếu bạn đặt vai trò thành “Customer” trong cùng biểu mẫu đó thì chúng biến mất.

Một ô mang cả hai. Một ngày nghỉ ốm và ba tuần nghỉ phép, với hệ thống, là cùng một thứ, chỉ khác cái ngày.

Biểu mẫu sửa một tài khoản với ô “Availability” đặt là “Away” và ô “Away until” chứa một ngày.
Các khung đỏ nằm trên hai ô đó. Chúng đứng ở dưới cùng biểu mẫu, và chỉ với nhân viên xử lý và quản trị viên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

“Busy” tự đặt lại sau một giờ

“Busy” kéo dài một giờ. Sau đó nhân viên xử lý lại sẵn sàng mà không phải làm gì.

Menu hiện thời gian còn lại bên cạnh tình trạng, ví dụ “60 min left”.

Một giờ là cố định. Đó là lưới an toàn chống quên, không phải một quy tắc vận hành. Ai không sẵn sàng lâu hơn thì chọn “Away”.

Việc đặt lại là một mốc thời gian, không phải một tác vụ. Tài khoản giữ khoảnh khắc mà tình trạng kết thúc, và tình trạng được tính ra khi có người đọc nó. Nếu máy chủ tắt trong giờ đó thì sau đấy nhân viên xử lý đơn giản là lại sẵn sàng. Không có việc tồn đọng nào để một dịch vụ chạy nền phải bù lại.

“Away” chỉ hết hạn nếu đã ghi một thời điểm kết thúc. Không có thời điểm đó thì nó còn nguyên tới khi có người đổi.

Khi nhân viên xử lý tự đặt mình sang “Away” thì tình trạng đó không có thời điểm kết thúc. Chỉ quản trị viên mới cấp một ngày kết thúc.

Menu người dùng với tình trạng “Busy”, thời gian còn lại “60 min left” và dấu tích bên cạnh.
Khung đỏ nằm trên tình trạng đang có hiệu lực. Dấu tích ở bên phải, thời gian còn lại nằm cạnh tình trạng. Chấm tròn trên ảnh tài khoản giờ là màu vàng cam.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Không có lịch sử tình trạng sẵn sàng và không có đánh giá theo từng người

Hệ thống chỉ nhớ tình trạng nào đang có hiệu lực ngay lúc này. Nó không ghi lại ai bận hay vắng mặt vào lúc nào.

Vì thế danh sách người dùng hiện tình trạng của hiện tại và không gì hơn. Không có cột nào chứa lịch sử và không có báo cáo nào về sự có mặt.

Đây là một quyết định, không phải một mảnh còn thiếu. Dữ liệu về tình trạng sẵn sàng của từng người là dữ liệu hành vi, và ở nhiều công ty thì hội đồng lao động có tiếng nói trong đó.

Một lịch sử cũng không cần thiết. Tình trạng trả lời đúng một câu hỏi: ngay lúc này người đồng nghiệp đó có sẵn sàng không? “Busy” tự kết thúc sau một giờ.

Một nhân viên xử lý đang có bao nhiêu ticket thì bạn thấy trong danh sách ticket, nơi “Assigned to” lọc theo một người. Còn ai đã vắng mặt bao lâu thì không được ghi ở đâu cả.

Danh sách người dùng với một chấm tròn có màu đứng trước tên các nhân viên xử lý và các cột Name, Email, Team, Role và Actions.
Các khung đỏ nằm trên hai nhân viên xử lý không sẵn sàng. Danh sách hiện tình trạng của hiện tại. Không có cột nào chứa lịch sử.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Tự động giao ticket

Một ticket mới có thể được cấp người phụ trách ngay lập tức. Hệ thống dùng tình trạng sẵn sàng đã nói ở khối trước, việc phân phối được bật theo từng nhóm, và thiết lập gốc của nó là tắt. Cả khối này thuộc về Professional.

1

Việc phân phối thuộc về nhóm

Chỉ có ở Professional

Không có phân phối thì mọi ticket mới rơi vào hàng chờ chung. Ai đó phải nhận nó hoặc ai đó phải chia nó ra, và cả hai đều chạy được chừng nào còn có người để mắt tới.

Bật phân phối lên thì mọi ticket mới được cấp người phụ trách ngay khi nó được tạo. Việc đó xảy ra tức thì chứ không phải vài phút sau.

Thiết lập này nằm trên nhóm ở mục “Settings → Teams” và mỗi nhóm tự quyết định cho mình. Một nhóm có thể phân phối trong khi nhóm bên cạnh làm việc từ hàng chờ chung.

Ở thiết lập gốc, mọi nhóm đều đứng ở “Off”. Một môi trường đang chạy không đổi cách hoạt động chỉ vì tính năng này tồn tại.

Ticket đi tới các thành viên của nhóm. Một quản trị viên làm việc trong hàng chờ và là thành viên của nhóm đó thì nhận ticket y như một nhân viên xử lý.

Phần “Automatic assignment” trong hộp thoại nhóm Helpdesk, đặt là “Round robin”, với hai câu giải thích bên dưới.
Thiết lập nằm trên nhóm. Bên dưới ô đó, một câu giải thích cách làm đã chọn, và bên dưới nữa là ai bị bỏ qua.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô chọn đang mở với ba mục “Off”, “Round robin” và “Least load”.
Ba mục để chọn. “Off” là thiết lập gốc.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Luân phiên hay ít việc nhất

Chỉ có ở Professional

Có hai cách làm và bạn chọn một cách cho mỗi nhóm.

“Round robin” đi vòng theo lượt. Ticket mới đi tới nhân viên xử lý đang sẵn sàng mà lần được giao tự động gần nhất của họ là xa nhất, nên ai vừa vào nhóm sẽ đứng đầu hàng.

“Least load” nhìn vào bàn làm việc. Ticket mới đi tới nhân viên xử lý đang sẵn sàng có ít ticket mở nhất.

Một ticket đang chờ người yêu cầu thì tính một nửa. Người có nhiều câu hỏi đang treo thì không bận theo cùng một kiểu với người có một đống sự cố mới tinh.

Một ticket đã xử lý xong hoặc đã đóng thì hoàn toàn không còn tính nữa. Điều đó cũng đúng với một trạng thái do chính bạn tạo ra, chừng nào nó được đánh dấu là đã xử lý hoặc đã đóng.

Kết quả tính ra được ở cả hai cách làm. Khi hai nhân viên xử lý ngang nhau thì luôn có cùng một quy tắc quyết định, không bao giờ là may rủi.

Vẫn phần đó trong hộp thoại nhóm mạng, đặt là “Least load”, với câu nói về những ticket chỉ tính một nửa.
Vẫn cái ô đó trên một nhóm khác, ở đây đặt là “Least load”. Câu bên dưới đổi theo thiết lập.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Ai không có mặt thì không nhận gì

Chỉ có ở Professional

Trước mỗi lần giao, việc phân phối hỏi tình trạng của nhân viên xử lý. “Busy” và “Away” bị bỏ qua.

Những tài khoản bị khóa và đã xóa cũng không được tính tới, và ai không phải thành viên của nhóm mà ticket thuộc về cũng vậy.

Nếu không ai sẵn sàng thì ticket ở lại không có người phụ trách, và việc tạo ticket vẫn diễn ra bình thường.

Đó là có chủ ý. Mọi người đều thấy một ticket nằm trong hàng chờ chung, và không ai thấy một ticket nằm ở chỗ một người đang vắng mặt.

Lịch sử ticket mang theo lý do: ở đó ghi “(nobody available)” thay cho một cái tên.

Xem thêm trong thẻ: Sẵn sàng, bận hay vắng mặt

Lịch sử của một ticket với một mục “Auto-assignment” nêu “(nobody available)” thay cho một con người.
Không ai sẵn sàng và ticket ở lại trong hàng chờ chung. Khung đỏ nằm trên cái mục nêu lý do.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Việc phân phối động tới cái gì và không động tới cái gì

Chỉ có ở Professional

Việc phân phối làm việc trên mọi đường mà một ticket sinh ra, và trong đó có cả ticket từ hộp thư đến.

Nó cũng làm việc y như vậy trên các ticket con của một yêu cầu: mỗi ticket được phân phối bên trong nhóm nhận nó.

Một ticket đã được một con người giao thì việc phân phối không bao giờ đụng tới. Nếu bạn tự chọn người phụ trách khi tạo ticket thì lựa chọn của bạn có hiệu lực.

Mỗi lần giao tự động đều được ghi vào lịch sử ticket, với “Auto-assignment” là tác giả và tên nhân viên xử lý bên cạnh.

Nhân viên xử lý nhận đúng bức thư như khi được giao bằng tay. Nếu ticket còn đứng ở “Open” thì nó chuyển sang “Assigned”.

Xem thêm trong thẻ: Một e-mail trở thành một ticket

Lịch sử của một ticket với hai mục “Auto-assignment”: việc giao cho một nhân viên xử lý của nhóm và lần đổi trạng thái từ “Open” sang “Assigned”.
Lịch sử nêu tên phần tự động. Nó đã giao ticket và chuyển luôn trạng thái đi cùng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Báo cáo về việc phân phối

Chỉ có ở Professional

Ai vận hành một phần tự động thì phải kiểm tra được nó làm gì. Trên trang báo cáo có một thẻ riêng cho việc đó.

Hai con số đứng ở phía trên. Bên trái là phần tự động đã chia ra bao nhiêu ticket, bên phải là bao nhiêu lần không ai sẵn sàng.

Cạnh con số bên phải là số của những ticket mà chuyện đó xảy ra với chúng, nên một cú nhấp đưa bạn tới đúng chỗ.

Bên dưới là mỗi nhân viên xử lý một dòng, kèm con số và tình trạng sẵn sàng của họ. Các dòng này lấy từ danh sách thành viên của nhóm.

Vì thế một dòng mang số không không phải là lỗi. Bảng này có mặt chính vì điều đó.

Ai đã đứng ở “Away” hàng tuần thì không nhận ticket nào và vẫn được liệt kê, với lý do nằm cạnh số không.

Thẻ này là nhật ký của cỗ máy, không phải bảng chấm điểm con người. Không có lịch sử tình trạng sẵn sàng và không có báo cáo về việc ai có mặt bao lâu.

Xem thêm trong thẻ: Không có lịch sử tình trạng sẵn sàng, không có đánh giá theo từng người

Trang báo cáo với thẻ “Automatic assignment” nằm giữa các báo cáo khác.
Thẻ này nằm trên trang báo cáo. Khung đỏ cho thấy tìm nó ở đâu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô “Nobody available” với con số của nó, một câu giải thích và số của ticket mà chuyện đó xảy ra với nó.
Con số thứ hai đứng cạnh con số thứ nhất với cùng trọng lượng. Bên dưới là số của những ticket đã ở lại trong hàng chờ chung.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bảng báo cáo với sáu nhân viên xử lý, con số và tình trạng sẵn sàng của họ, trong đó có một dòng mang số không kèm ghi chú “Away”.
Mỗi nhân viên xử lý một dòng. Khung đỏ nằm trên dòng mang số không có kèm lý do bên cạnh.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Yêu cầu kèm công việc & phê duyệt

Có những yêu cầu không phải một ticket đơn lẻ. Một yêu cầu tạo ra các công việc của nó khi được gửi đi, mỗi công việc là một ticket riêng trong nhóm phụ trách nó, và phê duyệt thì có thể có nhưng không bắt buộc. Cả khối này thuộc về Professional.

1

Một yêu cầu tự tạo ra các công việc của nó

Chỉ có ở Professional

“Một đồng nghiệp mới sắp bắt đầu” không phải một ticket đơn lẻ. Đó là một máy tính xách tay, hai tài khoản, một số máy lẻ và có lẽ cả quyền truy cập từ bên ngoài. Mỗi mảnh thuộc về một nhóm khác nhau, mà bạn vẫn muốn có một vụ việc duy nhất cho biết mọi thứ đang tới đâu.

Yêu cầu có mặt vì thế. Nó là một ticket tạo ra các công việc của mình ngay khoảnh khắc được gửi đi, và mỗi công việc trở thành một ticket riêng trong nhóm phụ trách nó.

Một yêu cầu không phải thứ thứ hai phải chăm sóc. Nó sống trên một mẫu ticket: ở mục “Settings → Request workflows” bạn tìm thấy mọi mẫu ticket, và bạn gắn các công việc vào một trong số đó.

Với mỗi công việc, bạn đặt bốn thứ. “Task” là cái tên mà người yêu cầu đọc, “Handled by” là nhóm nhận nó, còn “Ticket title” và “What the team has to do” điền vào cái ticket sinh ra từ đó.

Nhiều công việc có thể cùng trỏ tới một nhóm. Khi đó nhóm ấy nhận nhiều ticket, chứ không phải một ticket có một danh sách bên trong.

Một công việc không có nhóm thì hoàn toàn không được mời chọn. Chính cái ô đó nói vậy: “Not assigned yet — this task is not offered”. Nhờ vậy bạn lưu được một kế hoạch chưa xong.

Phía trên các công việc là một câu tóm tắt cả kế hoạch: cái gì được tạo theo thiết lập gốc, người yêu cầu được đổi bao nhiêu, và ai duyệt. Đổi một thiết lập thì câu đó tự viết lại.

Danh sách các mẫu ticket ở mục “Request workflows”, mỗi mẫu kèm số công việc của nó và một nút “Edit tasks”.
Mọi mẫu ticket ở cùng một chỗ, mỗi mẫu cho thấy nó mang bao nhiêu công việc. Khung đỏ nằm trên đường vào kế hoạch.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Kế hoạch với câu tóm tắt của nó và những công việc đầu tiên, mỗi công việc kèm một cái tên, một nhóm và một cách chọn.
Ở trên là câu tóm tắt kế hoạch, bên dưới là các công việc, mỗi cái kèm nhóm và cách chọn của nó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Người yêu cầu đánh dấu cái mình cần

Chỉ có ở Professional

Khi ai đó chọn mẫu trong biểu mẫu tạo ticket, ô “What is needed?” hiện ra với mỗi công việc một dòng để đánh dấu.

Có ba kiểu, đặt theo từng công việc. “Selectable, off by default” khởi đầu để trống, “Selectable, on by default” khởi đầu đã đánh dấu và bỏ dấu được, còn “Always — cannot be deselected” thì luôn chạy.

Một công việc luôn chạy thì vẫn được hiện ra, kèm dấu “(always included)”. Người yêu cầu nên thấy cái gì dù sao cũng sẽ xảy ra.

Bên dưới ô đó bạn đọc được cái gì sẽ sinh ra từ đấy: “Each selected item becomes its own ticket for the team that handles it.”

Một khách hàng cũng gửi được yêu cầu, chừng nào mẫu đó được mở cho khách hàng. Công tắc cho việc đó nằm trên mẫu.

Khi đó khách hàng chỉ thấy yêu cầu của chính mình. Những ticket trong các nhóm chuyên môn vẫn ẩn với họ, dù chính yêu cầu của họ tạo ra chúng — những ticket đó mang thông tin đăng nhập và ghi chú nội bộ.

Xem thêm trong thẻ: Mẫu ticket mở được cho khách hàng, từng mẫu một

Ô “What is needed?” trong biểu mẫu tạo ticket với bốn công việc để đánh dấu.
Cái ô đó trong biểu mẫu tạo ticket của người yêu cầu. Dòng đầu tiên luôn chạy và không bỏ dấu được, dòng thứ hai được đánh dấu theo thiết lập gốc, và bên dưới là dòng nói mỗi dấu tích sẽ trở thành gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Tiến độ của yêu cầu

Chỉ có ở Professional

Trên chính yêu cầu, các công việc được liệt kê ở mục “Workflow tasks”, kèm con số bên cạnh, ví dụ “1 of 4 done”.

Mỗi dòng hiện tên công việc, số ticket của nó, nhóm và người được giao, và cái tên là một liên kết dẫn vào ticket đó.

“Xong” đến từ trạng thái của ticket, không đến từ một dấu tích riêng. Cái gì được tính là đã đóng trong danh sách ticket thì ở đây cũng tính là xong — hai cách đếm cùng một thứ thì sớm muộn cũng lệch nhau.

Khối này chỉ hiện ra trên một yêu cầu. Một ticket thường thì không hiện nó.

Khối “Workflow tasks” trên yêu cầu với bốn công việc, số ticket và nhóm của chúng.
Khung đỏ nằm trên cái dòng có con số. Bên dưới, mỗi công việc cho thấy nó nằm ở ticket nào và nhóm nào; dấu tích bên trái đến từ trạng thái.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Một lần phê duyệt cho cả yêu cầu

Chỉ có ở Professional

Một lần phê duyệt bao trùm cả yêu cầu, không bao trùm từng công việc. Tám ứng dụng là một bức thư gửi người quản lý, không phải tám.

Bạn thiết lập việc này ở mục “Approvals” trong cùng kế hoạch, và câu phía trên nêu rõ quy tắc: “One approval covers the whole request. Add a second stage only when single tasks need their own release.” Mỗi bước có ba thiết lập: “Covers” nói nó áp cho cái gì, “Decided by” nói người phê duyệt đến từ đâu, và “Approver” chứa con người đó.

Người phê duyệt không cần tài khoản trong hệ thống ticket: bạn nhập một địa chỉ e-mail và họ quyết định qua một liên kết. Một người quản lý mỗi quý phê duyệt hai lần vì thế không tốn chỗ nhân viên xử lý nào.

Bức thư chứa đúng một liên kết dẫn tới một trang. Trong chính bức thư, có chủ ý không có nút phê duyệt hay từ chối nào: nếu không, một trình quét vi-rút mở mọi liên kết sẽ phê duyệt thay.

Trang đó tên là “Approval request”. Nó hiện số và tiêu đề của yêu cầu, người yêu cầu, và ở mục “This decision covers” là những công việc mà quyết định này nói tới, kèm một ô bình luận và hai cái nút bên dưới.

Liên kết không tồn tại mãi mãi, và trang đó nêu thời hạn: “Please decide by …”.

Một quyết định thì không rút lại được, và sau đó trang này nói rõ: “A decision cannot be changed.”

Phần “Approvals” của kế hoạch với hai bước, mỗi bước kèm một cái tên, một địa chỉ và một lời nhắc.
Hai bước trên một kế hoạch: bước thứ nhất bao trùm cả yêu cầu, bước thứ hai chỉ bao trùm những công việc trỏ tới nó. Người phê duyệt là một địa chỉ, không phải một tài khoản.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bức thư phê duyệt trong hộp thư với một liên kết duy nhất dẫn tới trang quyết định.
Yêu cầu tới tay người phê duyệt như thế này. Bức thư chứa một liên kết và không có gì khác để nhấp; quyết định diễn ra trên trang nằm sau nó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang “Approval request” với yêu cầu, người yêu cầu, công việc được bao trùm, ô bình luận và hai nút “Approve” và “Reject”.
Trang quyết định. “This decision covers” nói nó nói về cái gì. Người phê duyệt không đăng nhập và không có tài khoản.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Một bước thứ hai cho từng công việc

Chỉ có ở Professional

Có những công việc cần một lần duyệt riêng. Quyền truy cập từ bên ngoài không phải cùng một chuyện với một máy tính xách tay.

Cho việc đó bạn thêm một bước thứ hai rồi chọn nó trên công việc ở mục “Extra approval”. Chừng nào ở đó còn ghi “None — the request approval is enough” thì việc duyệt yêu cầu là đủ. Cả hai bước được hỏi cùng lúc, không phải cái này sau cái kia.

Một công việc được duyệt khi mọi bước liên quan tới nó đã đồng ý. Những công việc còn lại bắt đầu ngay khi chính yêu cầu được phê duyệt.

Cho tới lúc đó, công việc bị khóa: ticket của nó đứng ở “Waiting for approval”, không có người được giao, và ô chọn trạng thái không mời gì cả.

Việc khóa cũng giữ nguyên với các thao tác hàng loạt trên danh sách ticket. Chọn một ticket như thế ở đó thì bạn đọc được lý do: “This task is waiting for approval and cannot be worked on yet.”

Ticket vẫn được tạo ngay lập tức, để nhóm chuyên môn thấy cái gì đang tới và không ai phải để mắt tới yêu cầu.

Thẻ hành động của một công việc bị khóa với trạng thái “Waiting for approval” và ô chọn trạng thái trống rỗng.
Công việc đang chờ bước riêng của nó. Khung đỏ nằm trên trạng thái hiện tại; phía trên nó là một dấu gạch, vì không có bước chuyển nào được mời.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Có lời nhắc, nhưng không có duyệt theo thời gian

Chỉ có ở Professional

Bạn đặt được một lời nhắc cho mỗi bước, tính bằng giờ.

Nếu không có câu trả lời, sau khoảng thời gian đó chính bức thư ấy lại đi ra, mang cùng liên kết như bức đầu tiên. Ai còn giữ bức thư đầu thì vẫn dùng được.

Không có lời nhắc thì yêu cầu chỉ đơn giản là chờ, không hỏi lại.

Cái không tồn tại là việc duyệt do hết hạn. Bên dưới ô đó có ghi rõ từng chữ: “A request is never approved automatically. If nobody reacts, it keeps waiting.” Một thời hạn tự nó đồng ý thì không phải một lần phê duyệt, mà là một thủ tục hình thức.

Một bước phê duyệt với ô lời nhắc, tính bằng giờ, đóng khung đỏ.
Lời nhắc thuộc về bước và được tính bằng giờ. Để trống thì hệ thống không hỏi lại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Một lời từ chối tới tay người yêu cầu kèm lý do

Chỉ có ở Professional

Từ chối thì phải nêu lý do. Không có phần chữ thì trang này không nhận lời từ chối.

Chính cái ô đó nói phần chữ sẽ đi đâu: “Comment (required when you reject — the requester will see it)”. Một ghi chú nội bộ thì không thuộc về đây.

Người yêu cầu nhận một e-mail kèm lý do và không phải đi hỏi vì sao chẳng thấy gì nhúc nhích.

Phê duyệt thì không cần lý do. Đó là kết quả người ta mong đợi.

Nếu chỉ một bước thứ hai từ chối thì lời từ chối chỉ liên quan tới những công việc của bước đó. Phần còn lại của yêu cầu vẫn chạy tiếp.

Một công việc bị từ chối nhận trạng thái “Rejected” và được tính là đã xong, để yêu cầu không treo mãi mãi vì một thứ sẽ không bao giờ tới.

Trang quyết định sau khi từ chối, với dòng “You rejected this request.” và ghi chú rằng một quyết định thì không đổi được.
Sau quyết định: trang này xác nhận người phê duyệt đã làm gì và nói rằng điều đó có hiệu lực.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Dấu vết kiểm toán và người phê duyệt đang nghỉ phép

Chỉ có ở Professional

Trên yêu cầu, mục “Approvals” hiện mỗi bước một dòng kèm người phê duyệt, tình trạng, và với một yêu cầu còn mở thì kèm cả việc nó đã chờ bao lâu.

Sau quyết định, dòng đó hiện quyết định được đưa ra khi nào và kèm bình luận nào. Đó là dấu vết kiểm toán, và nó ở lại cùng vụ việc.

Nếu người phê duyệt đang nghỉ phép, một quản trị viên chuyển yêu cầu sang một địa chỉ khác. Cái nút tên là “Reassign” và chỉ hiện ra khi yêu cầu còn mở.

Chỉ quản trị viên mới được làm việc này. Một nhân viên xử lý mà chuyển giao được thì cũng chuyển được cho chính mình rồi tự quyết định.

Việc chuyển giao tạo ra một liên kết mới, và liên kết cũ chết ngay lập tức — kể cả khi ai đó đã chuyển tiếp nó.

Chính lần chuyển đó cũng xuất hiện trong cùng danh sách: ai đã chuyển, chuyển khi nào, từ ai sang ai.

Không ai quyết định được nhân danh người khác. Liên kết là con đường duy nhất, và ai đã nhận nó thì được ghi lại trên vụ việc.

Hộp thoại “Reassign” hỏi địa chỉ mới, với ô đã điền.
Hộp thoại hỏi yêu cầu nên đi tới địa chỉ nào thay vào đó. Bạn xác nhận bằng đúng cái từ đã mở nó ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách “Approvals” với bước thứ nhất đã duyệt, bước thứ hai bị từ chối, cả hai bình luận và ghi chú về lần chuyển giao.
Cả hai bước kèm quyết định, thời điểm và bình luận của chúng. Khung đỏ nằm trên cái bước đã được chuyển, và bên dưới là dòng ghi ai đã chuyển nó từ ai sang ai.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Mẫu trả lời & mẫu ticket

Hai loại mẫu cho hai thời điểm: một mẫu trả lời điền vào trình soạn bình luận trên một ticket đang mở, một mẫu ticket điền vào biểu mẫu tạo ticket. Cả hai đều thuộc Basic. Chỉ việc gửi một câu trả lời dưới dạng e-mail mới phụ thuộc vào kênh thư và do đó thuộc Professional — bản thân cái mẫu thì không.

1

Mẫu trả lời: phần chữ + thao tác trên trường (trạng thái, việc giao, mức ưu tiên …) trong một lần chọn

Trước khi bắt đầu: Quản lý và áp dụng là hai quyền khác nhau. Quản trị viên và nhân viên xử lý ngay từ đầu làm được cả hai. Việc áp dụng thì mở cho bất cứ ai được làm việc trên ticket. Kể cả khi một vai trò không quản lý được phần cài đặt, nó vẫn áp dụng được một mẫu.

Mẫu nằm ở mục “Settings → Templates”. Dòng bên dưới tiêu đề nói chúng làm gì và không làm gì: “Reply templates fill the comment editor and suggest field actions. Nothing is sent automatically.” Một mẫu là một nước đi đã chuẩn bị sẵn, không phải một cỗ máy — bạn luôn là người tự gửi.

Có hai loại và bạn chọn một loại khi tạo: “Add reply template” cho câu trả lời trên một ticket đang mở, “Add ticket template” cho biểu mẫu tạo ticket. Về sau không đổi loại được, vì loại quyết định biểu mẫu hiện ra những trường nào. Cái nhãn phía trên mỗi mẫu cho bạn biết bạn đang nhìn cái nào: “Reply template” màu xanh dương, “Ticket template” màu xanh lá.

Một mẫu trả lời gồm phần chữ trả lời (“Reply text”), ô đánh dấu “Internal note” và bao nhiêu thao tác tùy ý. Có sáu thao tác: “Set the status”, “Set the priority”, “Assign to a user”, “Remove the assignee”, “Hand over to another team” và “Set a follow-up”.

Danh sách “Assign to a user” bắt đầu bằng mục “The agent who applies it”. Hãy lấy mục đó khi nhiều người dùng chung một mẫu: khi ấy ticket thuộc về người vừa áp dụng nó, chứ không thuộc về một người cố định trong danh sách. “Set a follow-up” hỏi một con số và một đơn vị (phút, giờ, ngày, phút làm việc, giờ làm việc, ngày làm việc) cùng với ghi chú mà sau này sẽ cho bạn biết vì sao ticket quay lại.

Cái ô xanh ở cuối mỗi mẫu viết ra trong một câu rằng nó sẽ làm gì — ví dụ “Inserts the text as a public comment, sets status to Waiting for Service Provider Response, assigns to the applying agent, sets a follow-up in 3 days.” Câu đó tự dựng lại trong lúc bạn sửa. Nó là phép đối chiếu của bạn: nếu nó nói khác điều bạn định làm thì có một thiết lập sai.

Phần chữ không bắt buộc. “Chuyển việc này sang nhóm mạng mà không viết một chữ nào” là một mẫu hợp lệ — khi đó câu tóm tắt ghi “Suggests actions without a reply text”.

Trang “Templates” với hai nút “Add reply template” và “Add ticket template” đóng khung đỏ.
Loại được chọn ngay khi tạo: hai cái nút thay vì một công tắc. Bên dưới chúng, các mẫu nằm mở ra — mỗi mẫu kèm nhãn và phạm vi của nó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ba dòng thao tác của một mẫu trả lời, đóng khung đỏ, với câu tóm tắt bằng lời thường màu xanh bên dưới.
Ba thao tác trên một mẫu: trạng thái, giao cho người áp dụng nó, nhắc việc sau ba ngày. Câu bên dưới nói đúng điều đó trong một mạch.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Các thao tác được gợi ý có thể bỏ chọn từng cái trước khi gửi

Trên một ticket đang mở, nút “Template” nằm phía trên trình soạn bình luận. Một cú nhấp mở ô tìm kiếm gõ tới đâu lọc tới đó (“Search templates…”), chọn một mẫu thì trình soạn bình luận được điền. Không có gì khác xảy ra, và dòng bên dưới nói vậy: “Nothing happens until you add the comment.”

Mỗi thao tác của mẫu trở thành một thẻ nhỏ bên cạnh cái nút — bằng lời thường, không bằng thuật ngữ: “sets status to Waiting for Service Provider Response”, “assigns to the applying agent”, “sets a follow-up in 3 days”. Nhấp vào một thẻ thì nó bị gạch ngang: nó bị bỏ chọn và sẽ không chạy. Nhấp lần nữa thì nó quay lại.

Những thao tác bị bỏ chọn thì bị gạch ngang, chứ không bị gỡ đi. Nhờ vậy vẫn thấy được mẫu đã gợi ý gì — và quyết định vẫn đảo ngược được chừng nào bạn chưa gửi.

Những thẻ nào khởi đầu ở trạng thái bật thì do mẫu quyết định: trong phần cài đặt, mỗi thao tác mang một công tắc “Suggested”. Công tắc đó là lời đề nghị cho mọi trường hợp; cái thẻ trên ticket là quyết định cho trường hợp này.

Dấu “×” sau các thẻ gỡ cái mẫu ra. Phần chữ vẫn ở lại trong trình soạn — rất có thể bạn đã viết lại nó rồi; chỉ có tác dụng biến đi, nghĩa là các thao tác, bức thư và tệp đính kèm.

Bạn gửi bằng cái nút bình luận như thường lệ. Chỉ khi đó bình luận mới được tạo, và chỉ sau đó những thao tác còn đang bật mới chạy.

Trình soạn bình luận của một ticket với nút “Template”, ba cái thẻ bên cạnh — cái cuối cùng bị gạch ngang — và phần chữ đã chèn ở bên dưới.
Hai thao tác sẽ chạy, cái thứ ba bị bỏ chọn: việc nhắc lại sau ba ngày không hợp với vụ này, phần còn lại thì hợp. Phần chữ nằm trong trình soạn và vẫn đổi được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Chỗ giữ chỗ (người yêu cầu, số ticket, tiêu đề …) – chèn mẫu vào là các giá trị thật đi vào phần chữ

Phần chữ trả lời dùng được năm chỗ giữ chỗ; danh sách nằm bên dưới ô: “{requesterName}, {ticketId}, {ticketTitle}, {ticketRef}, {agentName}”. Hãy viết chúng với dấu ngoặc nhọn, đúng như chúng hiện ở đó.

“{ticketRef}” là mã tham chiếu ticket ở dạng “[TICKET-8-…]”. Đó là thứ mà nhờ nó hệ thống nhận ra câu trả lời của khách hàng khi thư quay về. Còn “{ticketId}” thì chỉ là con số trơ.

Chúng được thay khi mẫu được ÁP DỤNG, không phải khi được lưu: trang cài đặt vẫn hiện “{requesterName}”, còn trình soạn bình luận trên ticket hiện cái tên thật. Lý do rất thực tế — thay ngay lúc lưu sẽ khắc vĩnh viễn giá trị của MỘT ticket vào cái mẫu.

Nhờ vậy bạn đọc được phần chữ hoàn chỉnh trước khi bất cứ thứ gì rời khỏi nhà. Nếu lời chào không hợp thì bạn đổi nó ngay trong trình soạn như mọi đoạn chữ khác.

Ai được tính là “người yêu cầu” thì do ticket quyết định, không do tài khoản: người yêu cầu được ghi trên ticket đứng trước cái tài khoản đã gửi nó đi. Nếu một nhân viên xử lý gửi ticket thay một đồng nghiệp sau một cuộc gọi thì câu trả lời vẫn chào người đồng nghiệp chứ không chào nhân viên xử lý.

Một chỗ giữ chỗ gõ sai sẽ bị từ chối khi bạn lưu, và nó được nêu tên: “Reply text: unknown placeholders {requesterNam}. Available here: {requesterName}, {ticketId}, {ticketTitle}, {ticketRef}, {agentName}.” Nhờ vậy bạn nhận ra nó lúc đang viết mẫu, chứ không phải trên một khách hàng.

Dòng chủ đề của e-mail có danh sách RIÊNG, ngắn hơn (“{originalSubject}, {ticketTag}, {ticketId}”) — vì thế nó được in ở đó một lần nữa. Một chỗ giữ chỗ của phần thân không dùng được trong dòng chủ đề và cũng bị từ chối y như vậy.

Ô “Reply text” của một mẫu với các chỗ giữ chỗ trong phần chữ, đóng khung đỏ, và danh sách các chỗ giữ chỗ được phép ở bên dưới.
Cái mẫu trong phần cài đặt trông như thế này: với các chỗ giữ chỗ, không với giá trị. Dòng bên dưới liệt kê những chỗ giữ chỗ nào tồn tại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn cái mẫu đó khi được áp dụng trên một ticket: trình soạn bình luận chứa cái tên, tiêu đề và mã tham chiếu ticket đã viết ra đầy đủ.
Vẫn đoạn chữ đó trên ticket: “Hello Amir Khan”, tiêu đề của ticket, mã tham chiếu “[TICKET-8-…]” — và, làm chữ ký, chính nhân viên xử lý đã chèn cái mẫu. Chưa có gì được gửi đi cả.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Câu trả lời có thể được gửi thêm dưới dạng e-mail tới người yêu cầu

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Cả kênh thư nói chung là Professional — cả vào lẫn ra. Ngoài ra, hộp thư của nhóm phải bật việc gửi khi có thao tác trên ticket. Nếu không bật thì cái thẻ thư hoàn toàn không được mời trên ticket; các thao tác của mẫu vẫn chạy như thường, chỉ có bức thư là bị bỏ.

Công tắc “Send the comment as e-mail” biến bình luận thành luôn cả bức thư. Có chủ ý không có ô chữ thứ hai cho việc đó: cái gì nằm trong ticket thì khách hàng đọc đúng cái đó — hai đoạn chữ thì sớm muộn cũng lệch nhau.

Ở mục “Recipient” bạn chọn giữa “Requester”, “Assignee”, “Observers” và “Fixed address”. Ai là người yêu cầu thì được máy chủ xác định khi mẫu được áp dụng — một cái mẫu thì chưa biết ticket. Chính tài khoản hộp thư đến thì không bao giờ được viết tới; đó sẽ là một bức thư gửi cho chính mình.

Dòng chủ đề có thể mang “{originalSubject}”, “{ticketTag}” và “{ticketId}”. Hãy giữ “{ticketTag}” ở trong đó: nhờ mã tham chiếu ấy mà hệ thống nhận ra câu trả lời của khách hàng và gắn nó vào đúng ticket. Không có nó thì mọi thư trả lời đều thành một ticket mới.

Bức thư đi ra dưới dạng chữ thuần. Chữ đậm, danh sách và liên kết bị lược đi trước khi gửi, nếu không khách hàng sẽ đọc phải mã đánh dấu thô. Bên trong ticket, bình luận vẫn giữ định dạng của nó.

Trên ticket, bức thư là thêm một cái thẻ nữa bên cạnh các thao tác (“E-mail to Requester”) và bỏ chọn được y như chúng. Nhờ vậy một cái mẫu không bao giờ gửi thứ gì mà bạn chưa nhìn thấy. Cái thẻ chỉ xuất hiện khi hộp thư của nhóm có gửi thư cho các thao tác trên ticket.

Tệp đính kèm của một mẫu (“Attachments”) là bản sao riêng của mẫu đối với các tệp đó. Áp dụng mẫu sẽ thêm chúng vào TICKET, với một dòng riêng trong lịch sử — chúng không phải một phần của bức thư. Việc để tệp đính kèm trên một mẫu không cần giấy phép Professional; chỉ việc gửi mới cần.

Khối thư của một mẫu với công tắc “Send the comment as e-mail” đóng khung đỏ, người nhận và dòng chủ đề.
Công tắc, người nhận và dòng chủ đề. Dòng chủ đề chứa “{ticketTag}” — mã tham chiếu mà nhờ nó câu trả lời của khách hàng được nhận ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Tạo một mẫu thẳng từ một ticket đã có

Phần lớn các mẫu không ra đời trên bàn vẽ mà ra đời đúng lúc bạn viết cùng một câu trả lời lần thứ hai. Vì thế mỗi bình luận trên một ticket đều mang một biểu tượng tờ giấy nhỏ ở bên phải, ghi “Make template”. Nó lấy đúng bình luận đó làm phần chữ khởi đầu — kể cả bình luận của một đồng nghiệp.

Nếu ticket có tệp đính kèm, trước hết một hộp thoại hỏi những tệp nào nên đi theo: “Tick only the attachments the template should carry — one of them may be a customer’s screenshot. Nothing is ticked by default.” Không có gì được đánh dấu sẵn, và đó là có chủ ý.

Sau đó bạn rơi vào trang mẫu với một bản nháp CHƯA được lưu. Ở trên cùng là dải màu vàng cam “Draft from ticket #… — name it and review the text (it may contain customer details), then save.” Ô tên còn trống: bạn phải đặt một cái tên, nếu không nó sẽ không lưu.

Cái được mang sang: phần chữ, ô đánh dấu “Internal note”, nhóm của ticket, và tình trạng của ticket dưới dạng gợi ý — trạng thái và mức ưu tiên của nó đã nằm sẵn ở đó thành hai thao tác. Cái không được mang sang: người yêu cầu, địa chỉ và tiêu đề. Những thứ đó thuộc về đúng vụ việc này.

Hãy đọc phần chữ trước khi lưu. Nó đến từ một vụ việc thật và có thể chứa tên một con người, một số đơn hàng hay một căn phòng. Không có gì được ẩn danh giúp bạn — dải cảnh báo có nói vậy, nhưng làm thì là việc của bạn.

Chỉ “Save” mới tạo ra cái mẫu; khi đó những tệp đính kèm đã đánh dấu mới được sao chép sang và được xác nhận bằng một thông báo.

Một bình luận trên một ticket với biểu tượng tờ giấy “Make template” đóng khung đỏ, nằm cạnh các nút sửa và xóa.
Con đường bắt đầu ở bình luận, không bắt đầu trong phần cài đặt: biểu tượng tờ giấy ở bên phải câu trả lời bạn muốn dùng lại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Make a template from this comment” với hai tệp đính kèm của ticket, không tệp nào được đánh dấu.
Hai tệp đính kèm treo trên ticket này, không tệp nào được đánh dấu. Một trong hai là ảnh chụp màn hình của chính khách hàng — thứ đó không thuộc về một thư viện câu trả lời mẫu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Bản nháp là riêng tư cho tới khi được công bố; phạm vi theo từng nhóm hoặc chung cho tất cả

“Applies to” quyết định ai được mời dùng cái mẫu: một nhóm cụ thể hay “All teams”. Một mẫu mới khởi đầu với một nhóm cụ thể — “All teams” là một lựa chọn phải có người đưa ra, không phải một mặc định im lặng.

Trên một ticket, bạn được mời những mẫu của nhóm sở hữu cộng với những mẫu chung. Nếu ticket chuyển sang nhóm khác sau một lần chuyển giao thì danh sách chuyển theo — bạn chọn từ những mẫu của nhóm mới.

Công tắc “Draft” biến cái mẫu thành xưởng làm việc của bạn: “Only you can see this template until you publish it.” Bản nháp của người khác không hiện trong danh sách nào và cũng không tới được bằng địa chỉ của nó — kể cả với quản trị viên. Một mẫu mới khởi đầu là bản nháp; chỉ khi bạn tắt cái đó đi rồi lưu thì người khác mới thấy.

Hai cái mẫu không được trùng tên nếu chúng có thể gặp nhau: một mẫu chung đụng với bất kỳ mẫu cùng tên nào, ở bất kỳ nhóm nào. Nhưng một mẫu trả lời và một mẫu ticket thì được trùng tên — chúng không bao giờ đứng cạnh nhau trong cùng một danh sách.

“Duplicate” tạo một bản sao, và bản sao luôn là bản nháp: “Duplicated. The copy is a draft only you can see.” Đó là đường thoải mái để có một biến thể mà không ai khác bị mời dùng cái bản dở dang.

Phần đầu của một mẫu với các nhãn “Reply template” và “Draft”, ô “Applies to” đóng khung đỏ và công tắc “Draft” cũng đóng khung như vậy.
Mẫu này thuộc về bộ phận hỗ trợ và là một bản nháp: không ai ngoài tác giả của nó nhìn thấy — và phần chữ của nó trống rỗng, vì tất cả những gì nó làm là chuyển giao cái ticket.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Mẫu ticket: điền sẵn biểu mẫu tạo ticket (tiêu đề, mô tả, danh mục, mức ưu tiên, nhóm)

Một mẫu ticket điền vào biểu mẫu “Create new ticket”. Nó không có phần chữ trả lời, không có thao tác và không có thư — ở thời điểm này chưa có ticket nào để tác động lên. Vì thế biểu mẫu hiện những trường khác so với một mẫu trả lời, và cái khung xanh lá cho bạn biết bạn đang nhìn một mẫu ticket.

Bạn điền sẵn được “Ticket title”, “Owning team of the new ticket”, “Main category”, “Subcategory”, “Priority” và “Ticket description”. Mọi trường đều có thể để nguyên ở “Not prefilled” — cái gì để trống thì người dùng biểu mẫu sẽ điền sau.

Hãy để ý khác biệt giữa hai trường về nhóm: “Applies to” ở phía trên nói AI thấy cái mẫu. “Owning team of the new ticket” nói ticket mới đi VỀ ĐÂU. Đó là hai câu hỏi khác nhau, và chúng có thể có hai câu trả lời khác nhau.

Các danh mục được gộp theo nhóm, vì một danh mục thuộc về một nhóm. Nếu bạn chọn một danh mục của nhóm khác thì biểu mẫu sẽ nói với bạn và việc lưu bị từ chối: trên biểu mẫu tạo ticket của nhóm đích, danh mục đó hoàn toàn không được mời chọn, nên phần điền sẵn sẽ thành công cốc.

Ở đây không có chỗ giữ chỗ, và dòng gợi ý bên dưới phần chữ nói vậy: “No placeholders here: the template only prefills the form, nothing is resolved or sent.” Một “{requesterName}” sẽ nằm nguyên xi trong ticket mới — vì thế nó bị từ chối ngay lúc lưu.

Cái ô xanh cũng tóm tắt ở đây cái mẫu làm gì: “Prefills the new ticket with title ‘New notebook for a colleague’ · category Notebook / New request · priority Medium · team Helpdesk · the description.”

Trên chính biểu mẫu, bạn chọn cái mẫu bằng nút “Template”; bên cạnh nó là dòng “Prefills the form - nothing is created until you submit.” Mọi thứ được điền sẵn đều vẫn đổi được, và không có gì được tạo ra cho tới khi bạn gửi đi.

Hệ thống có kèm một mẫu ví dụ: “Example: create accounts for a new colleague”. Nó cho thấy hình hài của thứ này và tự nó không làm gì cả — hãy dựng lại nó hoặc xóa nó đi.

Trình sửa một mẫu ticket với các ô tiêu đề, nhóm đích, danh mục và mức ưu tiên đóng khung đỏ.
Năm phần điền sẵn cộng với phần mô tả. Ô “Owning team of the new ticket” không phải cái phạm vi ở phía trên nó — nó nói ticket đi về đâu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Biểu mẫu “Create new ticket” sau khi chọn một mẫu: nút “Template” và tiêu đề đã điền sẵn được đóng khung đỏ.
Vẫn biểu mẫu như mọi khi, chỉ có điều đã được điền sẵn: tiêu đề, nhóm và mức ưu tiên đã có ở đó. Danh mục và mô tả nằm xa hơn ở phía dưới cùng trang.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Mẫu ticket mở được cho khách hàng theo từng mẫu

Công tắc “Offer this template to customers” ngay từ đầu đang tắt. Dòng gợi ý bên cạnh nói cả hai điều bạn cần biết: “Customers can pick this template when they create a ticket. A draft stays hidden either way.”

Vì sao mặc định nó tắt: một mẫu thường được đặt tên bằng từ ngữ nội bộ và được viết cho đồng nghiệp. Cho khách hàng thấy nó là một lời tuyên bố ra bên ngoài — việc đó nên do ai đó làm một cách chủ ý, không phải tình cờ.

Khách hàng thấy cùng cái nút “Template” phía trên biểu mẫu tạo ticket, nhưng chỉ thấy những mẫu đã mở. Một bản nháp vẫn ẩn kể cả khi công tắc bật — hai quy tắc này nằm nối tiếp nhau, không nằm cạnh nhau.

Điểm mấu chốt không phải sự tiện lợi mà là lần tiếp xúc đầu tiên: một yêu cầu tới nơi đã đầy đủ sẽ tiết kiệm vòng hỏi đi hỏi lại mà nếu không sẽ tốn hai ngày. Hãy đưa những câu hỏi đó vào phần mô tả của mẫu — khách hàng trả lời chúng ngay khi tạo ticket.

Bạn còn đi xa hơn được với “Fields to ask for”. Khi đó cái mẫu quyết định biểu mẫu hỏi những trường tùy chỉnh nào, theo thứ tự nào, và trong đó trường nào là bắt buộc. Phần chọn đó THAY THẾ những trường thường lệ của nhóm, chứ không thêm vào chúng. Mục đích của nó đúng là như vậy. Bản thân các trường tùy chỉnh thuộc về Professional; thẻ của chúng tên là “Custom fields”. Còn việc mở một mẫu cho khách hàng thì chạy được ở mọi phiên bản.

Một trường đã bị ẩn với khách hàng thì vẫn ẩn, kể cả khi một mẫu liệt kê nó. Phần chọn trường là công cụ để sắp xếp và để cắt gọn, không phải đường vòng qua phần thiết lập trường.

Công tắc “Offer this template to customers” đóng khung đỏ với dòng gợi ý của nó.
Mỗi mẫu một công tắc — ở đây nó đang bật, nên mẫu này được mời cho khách hàng. Dòng gợi ý nói thẳng rằng một bản nháp thì dù sao cũng vẫn ẩn. Bên dưới nó là phần chọn trường.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Biểu mẫu tạo ticket như khách hàng nhìn thấy, với danh sách mẫu đang mở và những mẫu đã được mở nằm trong đó.
Vẫn danh sách đó ở phía khách hàng: nó chỉ chứa những mẫu đã được mở. Những mẫu ticket khác của bản cài đặt này không xuất hiện ở đây.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
9

Mỗi lần dùng đều truy vết được trong lịch sử ticket

Mỗi lần dùng đều ghi MỘT mục vào lịch sử, dưới tên trường “Template”. Nó nêu tên cái mẫu và liệt kê những gì thật sự đã chạy. Không có nó thì sau này không có cách nào giải thích vì sao một ticket bỗng nhảy sang “In Progress”: từng thao tác riêng lẻ đều ghi dòng của mình, nhưng không dòng nào nêu tên cái mẫu.

Trong hình có ghi: “Template ‘First reply: we have your ticket’ applied: Assign: already assigned to that user; SetStatus: Assigned -> InProgress”. Nửa đầu không phải một lỗi. Việc gửi bình luận đã đưa ticket sang tên nhân viên xử lý rồi, nên thao tác giao việc không còn gì để làm — và cái mục đó nói đúng điều ấy thay vì tuyên bố một tác dụng chưa từng xảy ra.

Những thao tác bị bỏ chọn thì không có trong đó: chúng đã không xảy ra. Một lần thất bại thì có trong đó, và được gọi đúng tên, sau chữ “failed”.

Mục này là NỘI BỘ — người yêu cầu không thấy nó. Tên một cái mẫu là từ ngữ nội bộ (“từ chối chuẩn”), và lịch sử thì cũng mở cho người tạo ticket. Bản thân những thay đổi trường vẫn hiện với họ; chỉ có xuất xứ của chúng từ một cái mẫu là không.

Tác giả là nhân viên xử lý, không phải “system” và không phải cái mẫu. Đó là có chủ ý: việc áp dụng nó là quyết định của họ. Khác với một quy tắc tự động hóa, cái đứng trên ticket ở đây là một con người.

Lịch sử của một ticket với mục “Template” đóng khung đỏ nêu tên cái mẫu đã áp dụng và những thao tác đã chạy.
Mỗi lần dùng một mục, với nhân viên xử lý là tác giả. Phía trên nó là các dòng của từng thao tác riêng lẻ — mục về cái mẫu nói chúng từ đâu ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Tự động hóa & nhắc việc

Hai con đường tới cùng một đích: không vụ việc nào bị bỏ nằm đó chỉ vì không ai còn nhớ tới nó. Nhắc việc là thứ bạn tự đặt — cái đó thuộc Basic. Còn các quy tắc thì làm mà không cần bạn, và chúng thuộc Professional.

1

Nhắc việc trên một ticket bằng tay (ngày + ghi chú, bộ lọc Hôm nay/Tuần này/Quá hạn)

Trước khi bắt đầu: Chỉ nhân viên xử lý và quản trị viên mới thấy phần nhắc việc, và ticket nói rõ điều đó: “Only agents and administrators see this — the requester never does.” Người yêu cầu không bao giờ được thấy nó.

Phần nhắc việc nằm trên ticket, trong thẻ “Details” ở bên phải, dưới các thời hạn. Chừng nào chưa đặt gì thì ở đó ghi “No follow-up set.” kèm một nút “Set follow-up”. Bạn chọn ngày và giờ (“Date and time”) rồi thêm một ghi chú (“Note (optional)”, chỗ giữ chỗ “Why is this coming back?”). Sau đó hai cái nút ghi “Change” và “Remove”.

Giá trị nằm ở cái ghi chú. Sau hai tuần, riêng một cái ngày sẽ không cho bạn biết vì sao ticket này lại nằm trên bàn. Đó cũng là lý do ghi chú treo vào cái ngày: bỏ ngày đi thì ghi chú đi theo — một lý do không có ngày là thứ sẽ không bao giờ có ai nhìn thấy nữa.

Phía trên danh sách ticket là một dòng “Follow-up:” với bốn cái nút — “No filter”, “Today”, “This week” và “Overdue” — và bản thân danh sách có một cột “Follow-up”. Nó có chủ ý không nằm trong khối bộ lọc đang gấp lại: đây là câu hỏi mà một nhân viên xử lý bắt đầu ngày làm việc với nó.

“Overdue” bao gồm cả của hôm nay. Nếu không, một lần nhắc việc sẽ biến mất đúng vào cái ngày mà nó có giá trị — ngay khoảnh khắc giờ của nó trôi qua.

Thẻ “Details” của một ticket với phần “Follow-up” đóng khung đỏ, mang nhãn “Overdue”, ghi chú và hai nút “Change” và “Remove”.
Ngày của ticket này nằm trong quá khứ, nên có nhãn đỏ “Overdue”. Ghi chú nói cuộc gặp lại này là về chuyện gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách ticket với dòng “Follow-up:” đóng khung đỏ phía trên bảng và cột “Follow-up” cũng được đóng khung như vậy.
Bốn ticket mang một cái ngày: một nhân viên xử lý đặt hai cái bằng tay, một quy tắc đặt hai cái kia. Các nút phía trên thu hẹp danh sách xuống còn hôm nay, tuần này hoặc quá hạn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Quy tắc theo thời gian – phản ứng với sự VẮNG MẶT của một hành động

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Một quy tắc mới LUÔN được tạo ở trạng thái tắt — kể cả khi bạn thử tạo nó ở trạng thái bật qua giao diện. Một quy tắc chạy khắp toàn bộ tồn đọng của bạn ngay khoảnh khắc được tạo ra chính là tai nạn mà hệ thống gánh giúp bạn ở đây. Nó chỉ đi vào hoạt động với lần “Save” kế tiếp.

Các quy tắc nằm ở mục “Settings → Automation”. Dòng bên dưới tiêu đề nói đây là chuyện gì: “Rules that act when nobody else does.” Một quy tắc thuộc về một nhóm và làm việc trên ticket của nhóm đó; ô chọn “Team” ở phía trên quyết định bạn đang nhìn những quy tắc nào.

Khác biệt so với mọi thứ khác trong hệ thống: những quy tắc này không phản ứng với một sự kiện, chúng phản ứng với sự VẮNG MẶT của nó. Ba ngày không có hồi âm từ người yêu cầu, một tuần không có chuyển động, tạo ra bốn giờ trước và vẫn chưa là việc của ai — không có cú nhấp nào kích hoạt bất cứ điều nào trong số đó. Và chính vì thế mà không ai nhận ra.

Một dải màu xanh lá ở phía trên cho bạn biết các lượt kiểm tra đang chạy: “The automation checks every minute. 2 of 6 rule(s) are enabled.” Khi không quy tắc nào được bật thì bạn nhận cảnh báo “No rule is enabled. Nothing is being checked and tickets behave exactly as before.” — và khi đó thật sự chẳng có gì xảy ra.

Phần đầu trang “Automation” với dải xanh lá đóng khung đỏ về nhịp kiểm tra, bộ lọc nhóm và nút “Add rule”.
Sáu quy tắc được lưu ở đây, hai trong số đó đang chạy. Bốn ví dụ đi kèm nằm bên dưới trên cùng trang, tất cả đều đang tắt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Trình dựng quy tắc KHI/NẾU/THÌ với một câu lời thường chạy theo

Chỉ có ở Professional

Một quy tắc có ba khối. “WHEN” là sự vắng mặt mà nó phản ứng với (“Something has not happened for a while. This is what the automation reacts to.”). “IF” thu hẹp lại xem điều đó áp cho những ticket nào (“Which tickets it applies to.”) — theo trạng thái, mức ưu tiên, nhóm, danh mục, người được giao hay đánh giá. “THEN” là cái sẽ xảy ra.

Phía trên các khối, quy tắc hiện ra thành một câu, và câu đó tự viết lại theo mỗi thay đổi: “When a ticket has seen no activity for more than 5 minutes and has the priority “High”, then set a follow-up in 4 hours.” Nếu còn thiếu thứ gì thì câu đó nói ngay tại chỗ ấy thay vì giấu đi.

Trong khối “IF” bạn cũng quyết định các điều kiện kết hợp ra sao: “All conditions must apply” hay “Any condition is enough”. Câu phía trên đổi hình theo đó — nếu dùng chữ “và” thì nó sẽ nói ngược lại điều quy tắc làm.

Hai ô điều khiển việc nhiều quy tắc phối hợp với nhau: “Order” đặt thứ tự, còn công tắc “Skip the following rules for a ticket this rule applies to” dừng mọi quy tắc phía sau đối với một ticket mà quy tắc này áp dụng.

Xem thêm trong thẻ: Một đánh giá kém làm điều kiện kích hoạt

Một quy tắc với câu lời thường đóng khung đỏ ở phía trên và ba khối WHEN, IF và THEN ở bên dưới.
Cùng một nội dung hai lần: một lần dưới dạng biểu mẫu, một lần dưới dạng câu. Đọc cái câu đó, bạn nhận ra ngay khi mình đã dựng ra thứ khác với điều mình định làm.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Có sẵn bốn quy tắc ví dụ (tắt khi cài đặt, bạn thích cái nào thì bật cái đó)

Chỉ có ở Professional

Mọi bản cài đặt đều kèm bốn quy tắc: “Example: remind the requester after 3 business days”, “Example: close after 10 days without a reply”, “Example: raise the priority of unassigned tickets” và “Example: follow up on tickets nobody touched for a week”. Chúng nằm lần lượt bên dưới nhau trên trang “Automation”.

Cả bốn đều đang tắt — mỗi cái mang nhãn xám “Off” và dòng “Last run: never”. Chúng là điểm khởi đầu để đọc và dựng lại, không phải hành vi mà ai đó lén đưa vào sau lưng bạn. Hãy đổi tên chúng, sửa chúng, bật chúng lên hoặc xóa chúng đi.

Chúng cũng áp cho “Every team” — chỗ duy nhất trong hệ thống mà điều đó xảy ra không kèm một lựa chọn rõ ràng. Vì vậy trước khi bật một cái lên, hãy kiểm tra xem nó có thật sự dành cho mọi nhóm của bạn hay không.

Cái đầu tiên trong bốn quy tắc ví dụ với nhãn “Off” đóng khung đỏ, tên của nó và câu lời thường.
Cái đầu tiên trông như thế này; ba cái còn lại nằm bên dưới trên cùng trang và cũng đang tắt. “Every team” nghĩa là: nó sẽ áp cho từng nhóm của bạn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Xem trước trước khi bật: hiện ra ngay lúc này quy tắc sẽ ảnh hưởng tới những ticket nào – mà không đổi gì cả

Chỉ có ở Professional

Bên dưới mỗi quy tắc là nút “Which tickets would this affect?”. Một cú nhấp hiện ra danh sách “Tickets this rule would affect right now” — những ticket mà quy tắc áp dụng vào lúc này, kèm số và tiêu đề.

Bên dưới có ghi phần xem trước không làm gì: “The preview only reads. It changes nothing and writes no log entry. Unsaved changes are not included.” Vế cuối là điều đáng để ý: phần xem trước làm việc trên quy tắc đã lưu, không làm việc trên cái đang nằm trong biểu mẫu.

Nếu lúc này quy tắc không khớp với gì cả thì nó cũng nói vậy: “No ticket matches this rule right now.” Đó là câu trả lời bạn muốn có trước khi bật — chứ không phải sau đó trên ticket của khách hàng.

Phần xem trước của một quy tắc đang mở với tiêu đề “Tickets this rule would affect right now”, hai ticket và dòng gợi ý đóng khung đỏ nói rằng phần xem trước chỉ đọc.
Quy tắc này lúc này sẽ động tới hai ticket. Dòng gợi ý bên dưới nói rằng không điều nào trong đó xảy ra khi bạn nhấp cái nút.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Thao tác: e-mail, trạng thái, mức ưu tiên, giao việc, chuyển sang nhóm khác, đặt nhắc việc

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Thao tác “Send an e-mail” đi ra qua đúng kênh thư như phần còn lại của hệ thống. Không cấu hình việc gửi thư thì không có gì xảy ra — và một bản cài đặt Basic thì hoàn toàn không có kênh đó.

Trong khối “THEN” bạn chọn trong bảy thao tác: “Send an e-mail”, “Set the status”, “Set the priority”, “Assign to a user”, “Remove the assignee”, “Hand over to another team” và “Set a follow-up”. “Add action” thêm thao tác nữa; mỗi thao tác có công tắc “Active” riêng, nên bạn tắt tiếng được một thao tác đơn lẻ mà không phải tắt cả quy tắc.

Với “Send an e-mail” bạn đánh dấu từng người nhận một: “the requester”, “the assignee”, “the observers” và “a fixed address” — cái cuối cùng có ô riêng cho địa chỉ. Với “Set a follow-up” bạn cho một con số, một đơn vị và cái ghi chú mà về sau sẽ nằm trên ticket.

Với “Hand over to another team”, dòng gợi ý nằm ngay bên dưới: “The ticket moves to that team and the current assignee is cleared. No second ticket is created.” Nhờ vậy không có bản trùng nào xuất hiện — cùng một vụ việc chỉ đơn giản là đổi tay.

Khối “THEN” của một quy tắc với ô chọn thao tác đóng khung đỏ và các ô cho con số, đơn vị và ghi chú của lần nhắc việc.
Một thao tác kèm phần đi theo nó: “Set a follow-up”, 4 “hours”, cộng với cái ghi chú mà về sau nhân viên xử lý sẽ đọc trên ticket.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Khoảng thời gian chọn được theo từng điều kiện: theo giờ làm việc và ngày làm việc lấy từ lịch của nhóm – hoặc chạy suốt ngày đêm

Chỉ có ở Professional

Mọi điều kiện thời gian trong khối “WHEN” đều có ba phần: loại điều kiện, phép so sánh “longer than” và một con số kèm đơn vị. Có năm loại: “Time since the ticket was created”, “Time without any activity”, “Time without a reply from the requester”, “Time without a public reply from an agent” và “Time without a status change”.

Đơn vị quyết định thời gian được đếm ra sao — và nó quyết định theo từng điều kiện: “minutes”, “hours” và “days” chạy thẳng, kể cả ban đêm và cuối tuần. “business minutes”, “business hours” và “business days” đếm theo lịch giờ làm việc của nhóm, nên chỉ cái gì rơi vào trong giờ mở cửa mới được tính.

Trong dùng hằng ngày thì khác biệt là lớn: ba ngày là ba ngày, còn ba ngày làm việc tính từ thứ Năm trong một tuần làm việc thứ Hai–thứ Sáu thì rơi vào thứ Ba tuần sau. Đó cũng chính là cái lịch mà các thời hạn SLA dùng.

Một điều kiện thời gian trong khối “WHEN” với con số và đơn vị đóng khung đỏ, bên cạnh ô chọn loại điều kiện.
Điều kiện này đếm bằng “business days” — ba ngày làm việc theo lịch của nhóm, không phải ba ngày trên lịch thường.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Nhật ký cho từng quy tắc + tên quy tắc làm tác giả trong lịch sử ticket

Chỉ có ở Professional

Bên dưới mỗi quy tắc là một nút “Log”. Nó mở bảng “What this rule did” với mỗi ticket bị tác động một dòng: “When”, “Ticket”, “Cycle”, “Result” và “Details”. “Details” chứa chính xác cái gì đã được làm — ví dụ “SetFollowUp: 2026-08-20 02:18Z”. Nếu một quy tắc chưa làm gì thì nó nói vậy: “This rule has not done anything yet.”

Cột “Cycle” là lý do một quy tắc không quát vào mặt bạn mỗi phút: nó tác động lên một ticket một lần trong mỗi chu kỳ. Một chu kỳ chỉ kết thúc khi quy tắc không còn áp cho ticket đó nữa — nên nếu khách hàng trả lời rồi lại im lặng thì chu kỳ 2 bắt đầu và quy tắc lại tác động.

Trên chính ticket, quy tắc xuất hiện với tư cách tác giả. Trong lịch sử, nó hiện dưới tên riêng của mình kèm tiền tố “Automation:”, ví dụ “Automation: High priority: bring it back to us”. Nhờ vậy ở mọi vụ việc bạn tra được là một con người hay một quy tắc đã hành động — và nếu là một quy tắc thì là quy tắc nào.

Dòng đầu của mỗi quy tắc cũng mang chữ “Last run:” kèm thời điểm của lượt chạy gần nhất, hoặc “never” với một quy tắc chưa từng chạy.

Bảng “What this rule did” đang mở với ba dòng và hai cột “Cycle” và “Details” đóng khung đỏ.
Ba lượt chạy trên hai ticket: trên ticket #4 chưa được trả lời, quy tắc đã tác động lần thứ hai — nên có số “2” trong cột “Cycle”. “Details” chứa cái ngày nhắc việc đã được đặt mỗi lần.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Lịch sử của một ticket với hai dòng đóng khung đỏ mà tác giả là “Automation: High priority: bring it back to us”.
Vẫn sự việc đó nhìn từ phía ticket: ngày và ghi chú xuất hiện thành hai dòng trong lịch sử, với quy tắc là tác giả của chúng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Thao tác hàng loạt trên danh sách ticket

Hãy đánh dấu nhiều ticket rồi đổi chúng trong một lần. Tất cả đều thuộc Basic. Chỉ có bức thư gửi khách hàng của một cái mẫu là phụ thuộc vào kênh thư và do đó thuộc Professional. Điểm mấu chốt thật ra không phải số lượng ticket mà là cách xử lý trung thực một kết quả từng phần: mọi quy tắc đều áp cho từng ticket một, nên hệ thống nói trước là thao tác hợp với bao nhiêu ticket, và nói sau là những ticket nào đã không đi theo và vì sao.

1

Đổi trạng thái của nhiều ticket cùng lúc

Danh sách ticket có một cột ô đánh dấu ở ngoài cùng bên trái. Nó có mặt cho quản trị viên và nhân viên xử lý. Một khách hàng không bao giờ thấy nó.

Ô đánh dấu ở dòng tiêu đề chọn mọi dòng của trang bạn đang xem. Nó không chọn cả tập kết quả. Nếu bạn cần nhiều hơn thế thì hãy thu hẹp bộ lọc — một bộ lọc là cách nêu số lượng trung thực hơn so với một ô đánh dấu bao gồm cả những ticket bạn không nhìn thấy.

Phần đã chọn bị xóa ngay khi bạn chuyển trang, lọc, tìm kiếm hay đổi nhóm. Nhờ vậy không có lựa chọn nào đi theo mà không còn nằm trên màn hình.

Danh sách trong hình không hiện mọi ticket. Ở góc trên bên phải, cạnh “Filter”, là chữ “active”, và bên cạnh là “Reset”: những ticket đã đóng bị ẩn đi, vì một thao tác hàng loạt nhắm vào những vụ việc còn đang chạy. Một lựa chọn luôn chỉ bao gồm cái mà danh sách đang hiện ra vào lúc đó.

Từ dấu tích đầu tiên trở đi, một thanh xuất hiện phía trên danh sách. Nó hiện “20 selected”, bên cạnh là “Clear selection” và các nút “Change status”, “Assign”, “Assign to me” và “Apply template”. Xa hơn về bên phải là “Multiple report” và “Group into incident” — hai cái đó thuộc về những lượt báo trùng và được giải thích ở khối kế tiếp.

“Change status” mở một hộp thoại nhỏ. Bạn chọn trạng thái đích, và dòng bên dưới lập tức nói nó áp cho bao nhiêu ticket trong số đã chọn.

Nếu trạng thái đích đòi một bình luận thì một ô chữ hiện ra. Bên dưới nó là dòng ghi phần chữ đó đi tới bao nhiêu ticket. Nó đi tới mọi ticket được đổi, không chỉ tới cái đầu tiên.

Không phải trạng thái nào cũng có trong danh sách. Các trạng thái hệ thống thì vắng mặt vì không ai đặt chúng bằng tay. “Waiting for other team” cũng vắng mặt: trạng thái đó tạo một ticket con cho một nhóm đích, và nhóm đó bạn chọn theo từng ticket. Trong một lượt gộp thì chỉ có duy nhất một ô nhập cho việc ấy.

Một ticket không có người được giao thì sẽ được giao cho bạn khi bạn đổi trạng thái của nó trên trang chi tiết. Trong một lượt gộp thì điều đó không xảy ra: “đóng 30 ticket” nếu không sẽ lặng lẽ có nghĩa là “30 ticket được giao cho tôi” và 30 bức thư.

Hộp thoại này không đổi gì khác. Mức ưu tiên, danh mục và mọi thứ ngoài đó thì được đặt trong một lượt gộp thông qua một mẫu trả lời.

Xem thêm trong thẻ: Một bước thứ hai cho từng công việc

Danh sách ticket với các dòng đã đánh dấu và cái thanh phía trên hiện số ticket đã chọn cùng các nút thao tác hàng loạt.
Khung đỏ nằm trên cái thanh chỉ xuất hiện với dấu tích đầu tiên. Bên trái là số ticket đã chọn, bên phải là các thao tác.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Change status” với một trạng thái đích đã chọn và dòng nêu phạm vi của nó.
Trạng thái đích đã được chọn; bên dưới là phạm vi và lý do cho từng ticket sẽ không đi theo. Cả hai đứng đó trước khi bạn nhấp “Apply”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Giao nhiều ticket cho một nhân viên xử lý cùng lúc

“Assign” mở danh sách nhân viên xử lý. Những nhân viên đang vắng mặt vẫn chọn được và chỉ được đánh dấu như vậy, đúng như trên một ticket đơn lẻ.

“Assign to me” là chính hộp thoại đó với tên bạn được chọn sẵn. Đó là một lối tắt, không phải một con đường thứ hai, và cùng những quy tắc ấy áp cho nó.

Mỗi lần giao đều gửi một e-mail cho nhân viên xử lý. Hộp thoại nêu con số từ trước: “This sends 11 e-mail(s) to the selected agent.” Mười một ticket là mười một bức thư.

Nhân viên xử lý phải thuộc về nhóm của đúng cái ticket đó. Vì vậy một lựa chọn trải qua hai nhóm thì không giao cho một người trong một lần được. Đó không phải giới hạn của thao tác hàng loạt — cùng quy tắc ấy áp cho một ticket đơn lẻ.

Một lần giao thì không đặt lại thành “không ai” được. Điều đó không tồn tại trên một ticket đơn lẻ, nên cũng không tồn tại trong một lượt gộp.

Hộp thoại “Assign” với nhân viên xử lý đã chọn, phạm vi và dòng thông báo về số lượng e-mail.
Bên dưới ô chọn là phạm vi và số lượng e-mail. Cái ô bên dưới nêu tên mọi ticket sẽ không đi theo, kèm lý do: bốn ticket đã thuộc về Marco Rossi, ba ticket thuộc về nhóm mạng mà anh ấy không tham gia.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Áp dụng một mẫu trả lời cho nhiều ticket, chỗ giữ chỗ được thay theo từng ticket

“Apply template” áp dụng một mẫu trả lời cho mọi ticket đã chọn. Mỗi ticket nhận đúng cái bình luận mà nó sẽ nhận nếu bạn áp dụng mẫu bằng tay.

Danh sách mời những mẫu của mọi nhóm xuất hiện trong lựa chọn. Một mẫu hiện ra ngay khi nó hợp với ít nhất một ticket đã chọn; nó thật sự hợp với bao nhiêu ticket thì phần xem trước nói ngay sau đó.

Máy chủ thay các chỗ giữ chỗ theo từng ticket, nên mỗi khách hàng nhận lời chào riêng và số ticket riêng của mình. Dòng gợi ý trong hộp thoại cũng nói vậy.

Các thao tác trên trường của mẫu chạy theo, và tệp đính kèm của nó được sao chép sang mọi ticket.

Trong một lượt gộp thì mọi thao tác của mẫu đều chạy. Bạn chỉ bỏ chọn được từng thao tác trên một ticket đơn lẻ; nếu không muốn một thao tác nào đó thì hãy dùng một mẫu không có nó.

Nếu không có mẫu nào cho những nhóm trong lựa chọn thì hộp thoại nói vậy: “No reply template is available for the teams of the selected tickets.”

Hộp thoại “Apply template” với một mẫu đã chọn và dòng gợi ý rằng các chỗ giữ chỗ được thay theo từng ticket.
Khung đỏ nằm trên dòng gợi ý về các chỗ giữ chỗ — thứ tách việc này khỏi một đoạn chữ y hệt nhau cho tất cả mọi người. Bên dưới là lý do cái mẫu hợp với 14 trong 20 ticket: sáu ticket thuộc về một nhóm mà nó không được mời cho nhóm đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Xem trước trước khi chạy, kết quả sau khi chạy, những ticket bị bỏ qua vẫn ở lại trong lựa chọn

Cả ba hộp thoại đều hiện cùng một dòng trước khi có gì xảy ra: “Applies to 19 of 20 selected ticket(s)”.

Bên dưới là ô “Will be skipped” với mỗi ticket không đi theo một dòng, mỗi dòng nêu số ticket và lý do. Nhờ vậy bạn đọc được trước cú nhấp vì sao con số nhỏ hơn lựa chọn của mình.

Sau khi chạy thì ở đó ghi “19 changed, 1 skipped” và chính cái ô ấy đổi thành “Not changed”. Nội dung vẫn thế; nó chỉ thôi là một dự báo và trở thành một lời khẳng định.

Các lý do là lý do của ticket đơn lẻ. Một ticket đã ở trạng thái đích. Bước chuyển không được phép từ trạng thái hiện tại của nó. Nó thuộc về một nhóm mà bạn không phụ trách. Nhân viên xử lý đã chọn không thuộc nhóm của nó. Nó đang chờ một lần phê duyệt. Nó là một ticket sự cố gộp còn có những lượt báo đang mở. Nó là một ticket cha còn một ticket con đang mở.

Những ticket bị bỏ qua thì vẫn ở lại trong lựa chọn, những ticket đã đổi thì không. Vì thế một lần thử thứ hai với một đích khác chỉ cách một cú nhấp, và không ai phải đoán xem những ticket nào còn dang dở.

Phần xem trước là một ý kiến thứ hai, không phải một giấy phép. Khi thao tác chạy, máy chủ kiểm tra lại từng ticket — một ticket có thể thay đổi giữa lúc hiển thị và lúc nhấp.

Một lượt gọi nhận nhiều nhất 200 ticket. Với 20 dòng mỗi trang thì con số đó còn xa lắm.

Hộp thoại sau khi chạy: số ticket đã đổi và số bị bỏ qua, và bên dưới là ô “Not changed” kèm các lý do.
Ô “Not changed” nêu lý do cho từng ticket. Ở đây hai ticket đã ở sẵn trạng thái đích.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Thư gửi những người yêu cầu mặc định là tắt

Chỉ có ở Professional

Ô đánh dấu để gửi thư chỉ hiện ra với những mẫu có gửi thư, và chỉ khi kênh thư đang mở. Mặc định nó để trống, nên một thao tác hàng loạt không viết gì ra bên ngoài cho tới khi bạn đánh dấu vào.

Nếu kênh đang đóng thì lý do đứng vào chỗ ô đánh dấu: hoặc việc gửi e-mail đang tắt, hoặc hộp thư của các nhóm đã chọn không gửi thư cho các thao tác trên ticket. Bạn đọc được điều đó trước cú nhấp, chứ không phải sau đó trong kết quả.

Khi bạn đánh dấu vào, một dòng cảnh báo màu vàng cam hiện ra kèm con số: “This sends 20 e-mail(s) to customers.” Con số này lấy từ phần xem trước và là số ticket mà cái mẫu thật sự hợp.

Việc đổi trạng thái và việc giao ticket thì không bao giờ viết cho khách hàng. Việc giao ticket có gửi một e-mail, nhưng gửi cho nhân viên xử lý. Áp dụng một mẫu trong một lượt gộp là con đường duy nhất mà một bức thư gửi khách hàng sinh ra.

Việc gửi phụ thuộc vào kênh thư và do đó thuộc Professional. Nếu kênh tắt thì không thư nào đi ra và lịch sử ticket nói rõ vì sao — nó không bao giờ tuyên bố một lần gửi chưa từng xảy ra.

Hộp thoại “Apply template” với ô đánh dấu gửi thư đã tích và dòng cảnh báo màu vàng cam về số thư gửi khách hàng.
Ô đánh dấu đã tích và dòng cảnh báo vàng cam nêu số lượng thư. Không tích thì không thư nào đi ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Mọi thay đổi hàng loạt đều xuất hiện trong lịch sử của từng ticket

Mọi thay đổi do một thao tác hàng loạt gây ra đều xuất hiện trong lịch sử của từng ticket. Ở đó nó trông như mọi thay đổi khác, với một giá trị cũ và một giá trị mới.

Người yêu cầu cũng thấy những dòng này. Với họ, một lần đổi trạng thái vẫn là cùng một sự việc dù nó được kích hoạt đơn lẻ hay theo lượt gộp — giấu nó đi thì không kín đáo hơn, chỉ tệ hơn.

Một lần giao hàng loạt ghi hai dòng như vậy: cạnh người được giao mới là trạng thái, vì một ticket đã giao sẽ chuyển sang “Assigned”.

Ngoài ra còn một dòng nội bộ mang mã tham chiếu của lượt chạy. Mã đó cho phép bạn tìm lại mọi ticket của cùng lượt chạy về sau. Người yêu cầu không thấy dòng này.

Mỗi dòng đều nêu tên người đã kích hoạt thao tác hàng loạt.

Một ticket bị bỏ qua thì không nhận mục nào, kể cả mục về lần thử. Cái đã không xảy ra thì không xuất hiện trong lịch sử.

Lịch sử của một ticket với dòng giao việc và dòng nội bộ bên dưới nêu tên lượt chạy hàng loạt.
Dòng mới nhất nằm trên cùng: trạng thái, bên dưới là việc giao, bên dưới nữa là mã tham chiếu của lượt chạy. Khung đỏ nằm trên dòng nội bộ, cái dòng mà người yêu cầu không thấy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Báo nhiều lần & sự cố diện rộng

Hai tình huống trông giống nhau mà không phải vậy. Nếu cùng một người báo cùng một chuyện hai lần thì một lượt báo nên biến đi. Nếu nhiều người báo một sự cố diện rộng thì không lượt nào được phép biến mất. Mỗi tình huống có đường riêng, và khác biệt nằm ở người yêu cầu.

1

Gộp hai lượt báo của cùng một người

Hãy đánh dấu các dòng trong danh sách ticket rồi nhấp “Multiple report”. Cái nút dùng được từ hai dòng đã đánh dấu trở lên.

Hộp thoại hỏi trước: “Which ticket stays?” Ticket cũ nhất được chọn sẵn, để thời hạn chạy từ lần liên hệ đầu tiên của người yêu cầu chứ không phải từ lần thử thứ hai. Bạn chọn cái khác được.

Bên dưới là chiều đi kèm cả hai con số: “#11 will be closed and moved into #10.” Nhờ vậy trước cú nhấp đã rõ ticket nào ở lại.

Mọi thứ đi theo: bình luận, tệp đính kèm và phần mô tả của lượt báo thứ hai. Phần mô tả trở thành một bình luận trên ticket gốc, kèm tác giả gốc và ngày gốc của nó. Hộp thoại nêu các con số từ trước.

Thời gian đã ghi thì được chuyển đi, không được sao chép. Nếu không, cùng một công sức sẽ nằm trên hai ticket và bị tính tiền hai lần.

Lượt báo thứ hai không bị xóa. Nó được đóng lại và từ đó trỏ tới ticket gốc, còn số của nó vẫn có hiệu lực.

Người yêu cầu không nhận một e-mail riêng. Họ có mặt trên ticket gốc và thấy mọi thứ ở đó. Lượt báo đã đóng mang một bình luận nêu tên ticket gốc, và họ đọc được nó.

Không có hoàn tác. Vì thế mọi thứ đều đứng sẵn trong hộp thoại trước khi bạn nhấp “Merge”.

Sau đó, lịch sử của cả hai ticket ghi lại ai đã gộp cái gì và gộp khi nào.

Danh sách ticket với ba dòng đã đánh dấu và cái thanh phía trên chứa hai nút “Multiple report” và “Group into incident”.
Các khung đỏ nằm trên hai cái nút. Chúng đứng cạnh nhau và có hai nghĩa khác nhau. Ở các dòng 12 tới 14 bạn còn thấy dấu của sự cố đang chạy.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Multiple report for the same issue” với phần chọn ticket ở lại và phần tóm tắt.
Khung đỏ nằm trên cái chiều đó. Nó nêu cả hai con số để không ai phải đoán ticket nào biến mất.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách ticket, đã tìm kiếm thu về hai ticket: ticket gốc và lượt báo đã gộp, cái đang đóng.
Ô tìm kiếm chứa một từ có trong cả hai tiêu đề, nên ticket gốc và lượt báo đứng cạnh nhau. Khung đỏ nằm trên lượt báo đã gộp. Nó đã đóng mà vẫn đứng trong danh sách, kèm một tham chiếu tới ticket mà nó được chuyển vào.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Thư trả lời gửi theo số ticket cũ vẫn tới nơi

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Việc này cần hộp thư đến. Không có nó thì không có thư trả lời nào để phải dẫn đường.

Người yêu cầu có số ticket cũ trong hộp thư của mình. Họ không biết gì về việc hai lượt báo đã được gộp và trả lời vào bức thư họ đang có.

Thư trả lời đó rơi vào ticket gốc. Hệ thống đi theo cái tham chiếu mà lượt báo đã đóng mang theo.

Vì thế một lượt báo đã gộp không bao giờ bị xóa. Không có nó thì tham chiếu không tồn tại và thư trả lời sẽ không tới đâu cả.

Ai đã tham gia lượt báo cũ thì cũng viết được trên ticket gốc. Việc kiểm tra diễn ra trên cái ticket được nêu tên trong bức thư.

Lượt báo đã đóng với tham chiếu tới ticket gốc và bình luận mà người yêu cầu đọc được ở đó.
Các khung đỏ nằm trên tham chiếu ở thẻ bên phải và trên bình luận. Chính cái tham chiếu này là thứ một thư trả lời đi theo.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Những lượt báo từ những người khác nhau thì không gộp được

Nếu bạn chọn ticket của những người khác nhau thì hộp thoại không nhận chúng. Nó nêu tên mọi dòng bị từ chối cùng lý do trước khi bạn nhấp.

Lý do ghi: “Different requester — this is an incident, not a multiple report.” Nó cũng nói cho bạn biết nên đi đâu thay vào đó.

Đây là cái chốt quan trọng nhất của cả chức năng này. Nếu bạn gộp ba mươi lượt báo của ba mươi người thì hai mươi chín người sẽ mất ticket của mình và không bao giờ nghe được hồi âm.

Ai là người yêu cầu thì lấy từ ô “User” trên ticket. Nếu ô đó trống thì tính cái tài khoản đã tạo ticket.

Vì thế cái chốt này cũng giữ với các cuộc gọi điện thoại. Nếu một nhân viên xử lý ghi lại hai cuộc gọi thì cả hai ticket đều do họ tạo. Nhưng những người gọi khác nhau vẫn là những người khác nhau, vì tên của họ nằm trong ô đó.

Nếu ở một bên không xác định được người yêu cầu thì cũng bị từ chối. Không rõ thì không giống với cùng một người.

Còn nhiều lý do khác hiện trong cùng cái ô. Một ticket sự cố gộp thì không gộp được. Một ticket gốc đã đóng thì không nhận thêm gì nữa. Và một lượt báo đã có những lượt báo của riêng nó thì không đi theo, để không hình thành chuỗi.

Ô “Cannot be merged” trong hộp thoại, kèm số ticket và lý do.
Khung đỏ nằm trên lý do. Ticket 15 thuộc về một người khác, nên nó nằm ngoài. Hai ticket còn lại vẫn được gộp.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Gom nhiều lượt báo về một sự cố diện rộng dưới một ticket sự cố duy nhất

Chỉ có ở Professional

Khi máy chủ tệp hỏng, hai mươi người báo lên. Mỗi lượt báo trong số đó là một vụ việc riêng với người yêu cầu riêng. Gộp ở đây là sai, vì mười chín người sẽ mất ticket của mình.

Hãy đánh dấu các lượt báo rồi nhấp “Group into incident”. Hộp thoại mời ba con đường: thêm chúng vào một ticket sự cố đang mở, tuyên bố một trong những ticket đã chọn là ticket sự cố, hoặc tạo một ticket sự cố mới với tiêu đề riêng.

Nếu nhóm đã có một ticket sự cố đang mở thì con đường đó được chọn sẵn. Đó là con đường thường gặp hơn: sự cố thì đã biết từ lâu, chỉ có những lượt báo mới cứ tiếp tục đổ về.

Mỗi ticket được liên kết vẫn giữ người yêu cầu, trạng thái và thời hạn riêng của mình. Không có gì biến mất. Ticket sự cố chỉ gom phần trả lời lại.

Mọi lượt báo của một ticket sự cố đều phải thuộc cùng một nhóm. Nếu một sự cố ảnh hưởng tới hai nhóm thì mỗi nhóm có ticket sự cố riêng. Nếu không, lời giải quyết của nhóm này sẽ dọn sạch hàng chờ của nhóm kia.

Bạn cũng gắn được người báo muộn ngay trên ticket đơn lẻ. Nếu nhóm có một ticket sự cố đang mở thì một dòng gợi ý hiện ra ở phía trên với “Assign” và “Not related”. Hệ thống không bao giờ tự gắn: một ticket bị gắn nhầm sẽ nhận một lời giải quyết không liên quan tới nó, và bị đóng theo luôn.

Ticket sự cố nêu có bao nhiêu lượt báo được gắn vào nó. Ngược lại, các ticket được liên kết mang số của ticket sự cố của mình, cả trong danh sách lẫn trong thẻ bên phải.

“Resolve incident” đóng ticket sự cố và trả lời mọi lượt báo cùng lúc. Phần chữ giải quyết là bắt buộc: nó chính là toàn bộ mục đích của chức năng này, vì nó đi tới mọi người bị ảnh hưởng.

Mỗi ticket được liên kết nhận phần chữ đó dưới dạng một bình luận công khai, được đặt sang trạng thái đã chọn, và người yêu cầu của nó nhận e-mail riêng của mình. Không có thư gửi chung, vì như vậy sẽ để lộ địa chỉ của mọi người bị ảnh hưởng.

Thông báo sau đó nêu bao nhiêu ticket đã được đóng và bao nhiêu người yêu cầu đã được báo tin. Hai con số đứng tách nhau, vì một ticket không có địa chỉ liên hệ được thì nhận một bình luận và một trạng thái nhưng không nhận e-mail.

Một ticket mà trong lúc đó bạn đã tự trả lời và tự đóng thì không bị đụng tới. Nó không bị đóng lần thứ hai và không bị viết thư lần nữa.

Chừng nào còn những lượt báo đang mở treo trên một ticket sự cố thì nó không đóng được bằng cách đổi trạng thái thông thường. Nếu không, hai mươi người sẽ lặng lẽ bị bỏ lại mà không có câu trả lời.

Hộp thoại “Group into incident” với ba con đường và ticket sự cố đang mở kèm số ticket được liên kết của nó.
Khung đỏ nằm trên ticket sự cố đang mở, bên phải là số lượt báo đã gắn vào nó. Phía trên ba con đường là câu tách trường hợp này khỏi việc gộp: không có gì biến mất.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Dòng gợi ý trên một ticket đơn lẻ với ticket sự cố đang mở và hai nút “Assign” và “Not related”.
Khung đỏ nằm trên dòng gợi ý. Đó là một lời đề nghị, không phải một hành động: nhấp cho nó biến đi thì không đổi gì trên ticket.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ticket sự cố với số lượt báo được liên kết, nút “Resolve incident” và ô đánh dấu cho biểu ngữ.
Các khung đỏ nằm trên cái nút xử lý xong, trên ô đánh dấu cho biểu ngữ và trên số lượt báo được liên kết.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Hộp thoại “Resolve incident” với trạng thái đóng và phần chữ giải quyết đã nhập.
Khung đỏ nằm trên dòng gợi ý phía trên ô nhập. Nó nói đúng một phần chữ này sẽ đi đâu: tới mọi ticket được liên kết và tới mọi người yêu cầu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Lượt báo của một người bị ảnh hưởng sau khi xử lý xong: đã đóng, với phần chữ giải quyết dưới dạng một bình luận công khai.
Khung đỏ nằm trên câu trả lời. Nó đứng trên ticket của đúng người yêu cầu này, với số và lịch sử của họ. Cùng câu trả lời đó đứng trên ticket của mọi người bị ảnh hưởng khác.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Sự cố hiện dưới dạng biểu ngữ và dưới dạng ghi chú trong thư trả lời tự động

Chỉ có ở Professional

Cả hộp thoại lẫn ticket sự cố đều mang ô đánh dấu “Also show as a banner on the sign-in page”. Nhờ nó, mọi người biết về sự cố trước khi viết thêm một ticket nữa.

Biểu ngữ đứng trên trang đăng nhập và ở bên trong hệ thống sau khi đăng nhập. Nó nêu “Known incident” cùng tiêu đề của ticket sự cố, nên cái tiêu đề đó là một văn bản dành cho khách hàng.

Nếu nhiều thông báo đang bật thì chúng đứng dưới nhau. Một đợt bảo trì thông báo cho thứ Bảy không đẩy sự cố của hôm nay đi, và ngược lại.

Nếu vẫn có người tạo ticket mới thì thư trả lời tự động nêu tên ticket sự cố. Điều đó đúng với một ticket đã được liên kết và với mọi ticket mới của nhóm đó, chừng nào sự cố còn mở và còn được thông báo. Việc này cần có e-mail đi ra.

Khi ticket sự cố được xử lý xong thì biểu ngữ tự biến mất. Không ai phải nhớ tắt nó đi.

Trên trang “Maintenance / Incident-Notification” bạn thấy được ngay lúc này sự cố nào đang chạy dưới dạng biểu ngữ. Cái công tắc trên trang đó thuộc về bảo trì đã lên kế hoạch và không áp cho các sự cố.

Ticket sự cố với ô đánh dấu đã tích và cái biểu ngữ hiện ra ở phía dưới nhờ đó.
Khung đỏ nằm trên ô đánh dấu. Nó có hiệu lực ngay: thông báo chạy dọc phía dưới, trên mọi trang của hệ thống.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang đăng nhập với biểu ngữ sự cố đang chạy ở phía dưới.
Khung đỏ nằm trên biểu ngữ. Nó có mặt trước khi đăng nhập, nên cũng tới được với người chỉ muốn xem mình có cần viết ticket hay không.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ticket sự cố sau khi xử lý xong: đã đóng, với phần chữ giải quyết dưới dạng một bình luận.
Khung đỏ nằm trên phần chữ giải quyết. Cùng với lần đóng này thì biểu ngữ cũng biến mất.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

SLA, lịch & chuyển cấp

Thời hạn khớp với giờ mở cửa của bạn: một chính sách nói bạn phải trả lời và xử lý nhanh tới đâu, một cái lịch nói đồng hồ chạy vào lúc nào. Mọi thứ trong khối này thuộc về Professional.

1

Chính sách SLA với thời hạn cho phản hồi đầu tiên và cho việc xử lý xong

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Nếu không có chính sách nào đang bật thì hệ thống không đo gì cả — không thời hạn, không cột, không thư. Và đồng hồ được tạo ra khi một ticket ĐƯỢC TẠO: cái gì tới trước khi bạn bật chính sách thì ở lại không có thời hạn. Đó là có chủ ý — nếu không, sáng hôm sau một nghìn ticket cũ sẽ đứng đó với dấu vi phạm.

Bạn thiết lập thời hạn ở mục “Settings → SLA”. Chính trang này nói ở phía trên khi không có chính sách nào đang bật. Một chính sách có ba phần: một cái tên, các điều kiện và các mục tiêu. Chính sách mới có chủ ý được tạo ở trạng thái không hoạt động — để bạn thiết lập xong xuôi trước khi nó làm bất cứ điều gì.

Các điều kiện là “Team”, “Priority”, “Main category” và “Subcategory”. Để trống nghĩa là “Any”, tức là “áp cho tất cả” — không phải “không áp cho gì cả”. Nếu nhiều chính sách cùng khớp thì cái có số nhỏ nhất ở mục “Order” thắng; vì thế chính sách hẹp nằm trên cùng còn chính sách chung nằm bên dưới.

Hai ô danh mục được gộp theo nhóm, vì danh mục thuộc về một nhóm — nhưng bạn được mời tất cả, kể cả danh mục của những nhóm khác. Đó là có chủ ý: khi chuyển giao thì ticket đi, còn danh mục thì không. Một ticket mà bộ phận hỗ trợ đã chuyển cho nhóm mạng vẫn mang cách phân loại của bộ phận hỗ trợ, và một chính sách có thể trỏ đúng vào đó. Khi bạn đã chọn một danh mục chính thì ô bên dưới chỉ mời những danh mục con được liên kết với nó — một cặp không thể tồn tại trên một ticket thì bị từ chối khi lưu.

Mỗi chính sách có hai mục tiêu. “Time to first response” kết thúc với thư trả lời công khai đầu tiên của một nhân viên xử lý — một thư xác nhận tự động và một ghi chú nội bộ thì rõ ràng không được tính. “Time to resolution” kết thúc ngay khi ticket đạt tới một trạng thái được tính là đã xử lý xong (trạng thái nào thì bạn đặt ở mục “Settings → General → Status”). Cả hai mục tiêu đều có số phút riêng, lịch riêng và cách phản ứng riêng khi bị vi phạm.

Trên ticket, các thời hạn nằm ở bên phải trong thẻ “Details”, bên dưới chúng là “Show deadline history”: một nhật ký ghi lại từng bước — đã bắt đầu, đã tạm dừng, đã chạy tiếp, đã đạt, đã lỡ — mỗi bước kèm lý do và số giờ làm việc đã dùng. Chỉ nhân viên xử lý và quản trị viên thấy nó; với khách hàng thì không lấy ra được.

Nếu về sau có người đổi mức ưu tiên hay nhóm thì đồng hồ chuyển sang chính sách khớp lúc đó: số giờ làm việc đã dùng tới thời điểm ấy được kết toán theo lịch cũ, sau đó các giá trị mới có hiệu lực. Nếu không còn chính sách nào khớp thì đồng hồ kết thúc mà không có phán quyết — nó không được tính là đạt và cũng không tính là vi phạm.

Một chính sách SLA với tên, thứ tự, công tắc hoạt động, bốn điều kiện Team, Priority, Main category và Subcategory đóng khung đỏ, cùng hai mục tiêu bên dưới.
Chính sách này áp cho mọi nhóm, nhưng chỉ áp cho mức ưu tiên “High”. Bên dưới là hai mục tiêu: 15 phút tới thư trả lời đầu tiên, 240 phút tới lúc xử lý xong.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Các thời hạn của một ticket: “Time to first response” với nhãn “In time”, bên dưới là “Time to resolution” với thời gian còn lại và phần lịch sử thời hạn đang mở.
Thư trả lời đầu tiên tới kịp giờ, việc xử lý thì vẫn đang chạy. Nhật ký nêu lý do cho từng bước — đọc từ dưới lên: bắt đầu theo chính sách giờ hành chính, tính lại khi mức ưu tiên lên “High” (“ticket fields changed”), và cuối cùng là đạt được với thư trả lời công khai đầu tiên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Lịch giờ làm việc cho từng nhóm

Chỉ có ở Professional

Một cái lịch nói đồng hồ chạy khi nào. Nó có một cái tên, một múi giờ riêng và bao nhiêu khung tùy ý cho mỗi ngày trong tuần — một giờ nghỉ trưa đơn giản là một ngày có hai khung. Một khung có thể kéo qua nửa đêm; khi đó bên cạnh hiện chữ “ends next day”.

Lịch nào áp cho một nhóm thì được đặt trên nhóm (“Settings → Teams”). Trên từng mục tiêu của một chính sách, bạn ghi đè được: “From the team” lấy lịch của nhóm, hoặc bạn chọn một lịch khác. Đó đúng là cái tạo ra trường hợp thông thường — sự cố tính suốt ngày đêm, mọi thứ khác chỉ tính trong giờ hành chính.

Cái được đếm là khoảng thời gian thật sự trôi qua bên trong khung, không phải hiệu số giữa hai lần đọc đồng hồ. Ở lần chuyển giờ mùa thì điều đó tạo khác biệt: một ngày chạy suốt 24/7 trong tháng Mười có 25 giờ, một ca đêm từ 22:00 tới 06:00 vào mùa xuân có bảy giờ thay vì tám. Một khung hành chính từ 09:00 tới 17:00 thì không bao giờ bị ảnh hưởng, vì ở EU việc chuyển giờ diễn ra ban đêm.

Nếu không tìm được cái lịch nào có giờ mở cửa thì không thời hạn nào được tạo ra — thà không có còn hơn có một cái đoán mò. Trên ticket, một dòng ghi chú hiện ra thay cho một cái ngày.

Lịch “Helpdesk business hours” với múi giờ Europe/Berlin đóng khung đỏ, các khung 09:00–17:00 từ thứ Hai tới thứ Sáu và nút “Add opening hours”.
Năm ngày, mỗi ngày một khung. Múi giờ thuộc về cái lịch, không thuộc về máy chủ — một địa điểm thứ hai đơn giản là có một cái lịch thứ hai.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Ngày lễ qua nhập tệp .ics hoặc nhập bằng tay

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Chúng tôi không kèm dữ liệu ngày lễ nào. Ngày lễ phụ thuộc vào ĐỊA ĐIỂM, không phụ thuộc vào ngôn ngữ — 16 bang của Đức, 26 bang của Thụy Sĩ, 50 bang của Mỹ, và mỗi năm lại mới. Một danh sách kèm sẵn sẽ sai vào lúc nào đó mà không ai nhận ra. Hãy lấy tệp .ics chính thức của khu vực bạn; đó là việc tốn một phút mỗi năm.

Bên dưới mỗi cái lịch là danh sách “Closed days”. Một cú nhấp lên “Import holidays (.ics)” nhận vào một tệp lịch rồi sau đó báo bốn con số: bao nhiêu ngày đã được tiếp nhận, bao nhiêu ngày được thay thế, bao nhiêu ngày không đọc được và bao nhiêu ngày đã có sẵn. Bạn cũng nhập từng ngày bằng tay được.

Ký hiệu ↻ sau một ngày nghĩa là “lặp lại hằng năm”. Nó chỉ đúng với những ngày cố định: mồng 3 tháng Mười rơi vào đúng ngày đó mỗi năm, còn Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Hai Lễ Hiện Xuống thì bám vào ngày lễ Phục Sinh và xê dịch. Vì thế những ngày lễ di động đứng trong danh sách với ngày cụ thể của từng năm — trong hình là “Good Friday” không có ký hiệu.

Một ngày nghỉ nuốt trọn cả cái khung của ngày đó, kể cả phần kéo sang ngày hôm sau. Và khi một cái lịch hoàn toàn không biết ngày nghỉ nào trong mười hai tháng tới thì trang này nói rõ điều đó — nếu không, hệ thống sẽ lặng lẽ tính xuyên qua các ngày lễ và cho ra những thời hạn sai.

Nút “Import holidays (.ics)” đóng khung đỏ và bên dưới là danh sách các ngày nghỉ cũng được đóng khung như vậy.
Năm ngày nghỉ. Bốn ngày mang ký hiệu ↻ cho “cùng ngày mỗi năm”, còn Thứ Sáu Tuần Thánh thì không — nó xê dịch.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Lịch “Around the clock” với dòng ghi chú màu vàng cam đóng khung đỏ nói rằng nó không biết ngày nghỉ nào trong mười hai tháng tới.
Dòng ghi chú đó không phải một lỗi mà là một cảnh báo: cái lịch này tính xuyên qua mọi ngày lễ. Với một lịch trực thì như thế là đúng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Đồng hồ tạm dừng trong lúc chờ người yêu cầu

Chỉ có ở Professional

Cuộc tranh luận thường gặp nhất về thời hạn là chuyện này: ticket đã chờ câu trả lời của khách hàng ba ngày, mà đồng hồ vẫn cứ chạy. Vì thế mỗi mục tiêu đều có công tắc “Pause while waiting for the requester” — riêng cho từng mục tiêu, không phải cho cả chính sách.

Có đang chờ hay không thì do trạng thái quyết định: ở mục “Settings → General → Status”, mỗi trạng thái mang một dấu cho biết nó có được tính là “đang chờ người yêu cầu” hay không. Với công tắc bật, thời hạn nghỉ chừng nào ticket còn nằm trong một trạng thái như thế. Đồng hồ treo tường thì vẫn chạy — vì thế danh sách hiện “Paused” thay cho thời gian còn lại, và lịch sử thời hạn chứa “Paused” cùng “Resumed” kèm thời điểm của chúng.

Với phản hồi đầu tiên, bạn thường để công tắc tắt: bạn nợ câu trả lời đầu tiên bất kể đang chờ cái gì. Với việc xử lý xong thì thường là bật. Hình cho thấy đúng thiết lập đó.

Hai mục tiêu của một chính sách với các công tắc “Pause while waiting for the requester” đóng khung đỏ — tắt ở mục tiêu thứ nhất, bật ở mục tiêu thứ hai.
Cùng một công tắc, hai câu trả lời: đồng hồ cho thư trả lời đầu tiên chạy thẳng, còn đồng hồ cho việc xử lý xong thì nghỉ trong lúc đến lượt khách hàng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Thời gian còn lại trong danh sách ticket, kèm bộ lọc cho những thời hạn bị vi phạm

Chỉ có ở Professional

Ngay khi một chính sách đang bật, danh sách ticket có thêm cột “Deadline”. Nó hiện thời gian còn lại của thời hạn đang mở kế tiếp (“14h 53m”). Khi không còn thời hạn nào trên ticket đang chạy nữa thì phán quyết đứng ở đó: nhãn “In time” cho một thời hạn đã đạt, nhãn đỏ “Breached” cho một thời hạn bị lỡ. Một ticket không có đồng hồ nào thì nhận một dấu gạch trung tính, và đó là có chủ ý: một ticket từ trước khi có chính sách không phải một thất bại.

Nếu không có chính sách nào đang bật thì cột này hoàn toàn vắng mặt — nó không đứng đó trống rỗng. Điều đó cũng đúng với bộ lọc: ở mục “Filter”, ô “Breached only” chỉ hiện ra khi thật sự có thời hạn.

Một ticket có hai đồng hồ nhưng cái cột chỉ có một chỗ — nó hiện thời hạn ĐANG MỞ khẩn cấp nhất. Nếu phản hồi đầu tiên đã bị lỡ mà việc xử lý vẫn đang chạy thì cột hiện thời gian còn lại của việc xử lý kèm một dấu “!” màu đỏ bên cạnh. Cái dấu đó nói: một thời hạn trên ticket này đã bị vi phạm — và đúng như thế mà bộ lọc “Breached only” tìm ra nó, vì nó hỏi về bất kỳ thời hạn nào bị vi phạm, kể cả một thời hạn đã kết thúc từ lâu. Còn trong hai cái thì cái nào bị vi phạm thì được ghi trong chính ticket.

Bạn cũng sắp xếp theo nó được: dưới cùng tiêu đề “Deadline” là một ô với “Due soonest first” và “Due latest first”. Những ticket không có đồng hồ đang chạy thì luôn rơi xuống cuối — chúng không phải ít khẩn cấp nhất, chúng đơn giản là không liên quan. Việc sắp theo thời hạn được ưu tiên hơn việc sắp theo “Updated at”: không danh sách nào thỏa mãn được hai thứ tự cùng lúc.

Danh sách ticket với ô “Breached only” đã tích, bộ lọc đóng khung đỏ và cột “Deadline” cũng được đóng khung như vậy.
Với ô “Breached only” đã tích thì chỉ còn lại đúng một ticket. Trên ticket 4, phản hồi đầu tiên đã bị lỡ. Cột vẫn hiện một thời gian còn lại đang chạy, vì nó hiện thời hạn ĐANG MỞ kế tiếp, và ở đây đó là việc xử lý xong. Dấu “!” đỏ bên cạnh nêu tên lần vi phạm.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Một ticket với nhãn đỏ “Breached” trên phản hồi đầu tiên và một thời gian còn lại đang chạy trên việc xử lý xong, bên dưới là lịch sử thời hạn.
Vẫn ticket đó, hai đồng hồ, hai tình trạng. Nhật ký chứa lý do: “due date passed”, sau 16 phút giờ làm việc đã dùng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Khi bị vi phạm: báo tin, hoặc chuyển ticket sang nhóm khác

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Việc chuyển giao có chủ ý không phải mặc định. Nó dời trách nhiệm, xóa người được giao và đặt lại trạng thái — một ticket mà ai đó đang làm dở sẽ nằm ở chỗ khác sau đó. Chỉ chọn nó khi đúng điều ấy là điều bạn muốn.

Với mỗi mục tiêu, ở mục “When breached” bạn đặt cái gì xảy ra khi bị vi phạm: “Record only” chỉ ghi lại, “Notify assignee and observers” gửi một bức thư cho người được giao và những người theo dõi (không gửi cho cả nhóm), “Hand over to another team” chuyển giao ticket. Với việc chuyển giao thì bạn phải chọn một nhóm đích — một chính sách không có nhóm đích sẽ bị từ chối khi lưu, vì nó trông như đã cấu hình mà lại không làm gì.

Hành động chạy đúng một lần cho mỗi đồng hồ. Không có cái chốt đó thì một lần khởi động lại máy chủ sẽ gửi lại chính bức thư ấy. Dấu “đã làm rồi” được đặt kể cả khi việc gửi thất bại — một bức thư không tới nơi thì vẫn hơn một vòng lặp mỗi phút gửi một bức mới.

Bản thân lần vi phạm được ghi ngày theo khoảnh khắc nó đến hạn, không theo lượt kiểm tra — nếu không thì báo cáo sẽ bám vào nhịp của dịch vụ kiểm tra. Và nó được đo theo số giờ làm việc đã dùng: một đồng hồ đang tạm dừng thì không vi phạm được, kể cả khi ngày đến hạn đã trôi qua từ lâu.

Một chính sách ví dụ đang tắt với lựa chọn “When breached: Hand over to another team” đóng khung đỏ và nhóm đích “Network”.
Câu bên dưới nhóm đích nói cái gì xảy ra: ticket chuyển sang nhóm đó, người được giao hiện tại bị xóa. Công tắc “Active” ở đây đang tắt — một chính sách không hoạt động thì không làm gì cả.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Số liệu SLA trong báo cáo

Chỉ có ở Professional

Ở mục “Reports” bạn chọn khoảng thời gian rồi bấm “Generate report” — không có cú nhấp đó thì trang vẫn trống. Sau đó báo cáo chứa khối “Service level agreements” với mỗi mục tiêu một dòng: đã đạt, bị vi phạm, còn đang chạy, tỷ lệ đạt được và thời gian trung bình đã dùng.

Việc đếm diễn ra theo từng mục tiêu, không theo từng ticket — bên dưới bảng cũng ghi vậy. Vì thế một ticket có cả hai mục tiêu sẽ xuất hiện hai lần, mỗi dòng một lần.

Tỷ lệ đạt được chỉ tính những đồng hồ đã ngã ngũ. Những đồng hồ đang chạy thì không thuộc về mẫu số, nếu không thì mọi SLA vừa bật lên ban đầu đều trông thảm hại rồi tự nó tốt lên. Nếu chưa có lấy một đồng hồ nào ngã ngũ thì một dấu gạch hiện ra — không phải “0 %”.

Nếu bạn làm việc với các ticket sự cố gộp thì có thêm một dòng “Achieved without group incidents”: một sự cố duy nhất với một trăm ticket gắn vào nếu không sẽ làm méo tỷ lệ theo cả hai chiều.

Khối báo cáo “Service level agreements” với các cột Met, Breached, Still running, tỷ lệ đạt được đóng khung đỏ và thời gian trung bình đã dùng.
Với phản hồi đầu tiên thì ba thời hạn đạt và một bị vi phạm, sáu thời hạn còn đang chạy. Thành ra 75 %. Hai cột bên phải nó chỉ hiện ra khi có ticket sự cố gộp: chúng bỏ ra ngoài những lượt báo đã được đóng cùng với một ticket sự cố.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Ghi nhận thời gian theo từng ticket

Nhân viên xử lý ghi lại công sức mà một vụ việc đã tốn. Điều này nói về công việc trên ticket, không nói về sự có mặt của một con người — nó rõ ràng không phải một hệ thống chấm công. Cả khối này thuộc về Professional.

1

Hãy bật nó lên trước khi có gì được ghi

Chỉ có ở Professional

Ở thiết lập gốc, việc ghi nhận thời gian đang tắt. Chừng nào nó còn tắt thì không có ô nào, cột nào hay ô số nào trong báo cáo.

Một cái ô chết còn tệ hơn là không có ô nào, nên tính năng này biến mất hoàn toàn thay vì đứng đó ở dạng làm mờ.

Công tắc nằm ở mục “Settings → General” trên thẻ “Time tracking per ticket” và tên là “Enable time tracking”.

Khi đó mọi nhóm đều tham gia. Muốn để một nhóm ra ngoài thì bạn tắt nó trên chính nhóm đó, ở mục “Settings → Teams” trong ô “Team details”.

Một công ty có nhóm CNTT nội bộ và một nhóm tiếp xúc khách hàng thì thường chỉ cần nó cho nhóm thứ hai.

Nếu về sau bạn tắt việc ghi nhận thời gian đi thì những mục đã có vẫn đọc được và xuất ra được — chúng là cơ sở để tính tiền, không phải một tiện ích. Chỉ là không ghi thêm được gì mới.

Thẻ “Time tracking per ticket” ở mục “Settings → General” với công tắc chính, phần làm tròn, các nút nhanh và đồng hồ bấm giờ.
Mọi thiết lập cho việc ghi nhận thời gian nằm trên một thẻ. Khung đỏ nằm trên công tắc chính, và bên dưới là dòng nói việc tắt nó đi có nghĩa gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô “Team details” với công tắc “Time tracking” và câu giải thích của nó.
Trên nhóm, bạn để riêng một nhóm ra ngoài. Khung đỏ nằm trên công tắc; những mục đã có thì kể cả khi đó vẫn hiện.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Ghi công sức trên một ticket

Chỉ có ở Professional

Ticket mang một thẻ tên là “Time spent”. “Log time” mở phần nhập.

Các nút nhanh nằm cạnh ô nhập: một cú nhấp lên “30m” ghi ba mươi phút. Những nút nào xuất hiện thì được đặt trong phần cài đặt.

Ô “Duration” cũng nhận nhập tự do: “90” là chín mươi phút, “1.5h” là một tiếng rưỡi, và “1h 30m” cũng vậy. Một con số không kèm đơn vị thì luôn là phút.

Cái gì hệ thống không hiểu trọn vẹn thì bị từ chối. “1h in the evening” không thành một mục một giờ — nó thành một thông báo lỗi.

Trong ô “What for (optional)” bạn viết thời gian đó dùng cho việc gì. Phần chữ này đi vào bản xuất và không xuất hiện trong lịch sử ticket.

Nhiều nhân viên xử lý cùng ghi thời gian trên một ticket. Mỗi mục đều mang ngày của nó, ghi chú của nó và tên người đã làm việc.

Thời gian được ghi vào một ngày, không ghi vào một giờ đồng hồ. Điền bù cho hôm qua là chuyện bình thường, và một giờ đồng hồ sẽ tuyên bố một độ chính xác mà phần nhập không có.

Phần nhập đang mở của thẻ “Time spent” với ô “Duration”, các nút nhanh, ô ghi chú và dấu tích “Billable”.
Khung đỏ nằm trên các nút nhanh. Bên cạnh chúng, cái ô nhận nhập tự do, và dòng gợi ý bên dưới nêu những dạng nó chấp nhận.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Danh sách các mục thời gian trên một ticket với ba mục từ hai nhân viên xử lý, mỗi mục kèm một ngày, một ghi chú và một cái tên.
Ba mục, hai nhân viên xử lý, một ticket. Khung đỏ nằm trên cái tên và cái ngày, với ghi chú bên dưới.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Đồng hồ bấm giờ

Chỉ có ở Professional

Với những phiên làm việc dài thì trên ticket có một đồng hồ bấm giờ: “Start timer” khởi động nó, “Pause” giữ nó lại.

Đồng hồ bấm giờ không bao giờ tự tạo ra một mục. Nó đề xuất khoảng thời gian đã trôi qua, và không có gì được lưu cho tới khi bạn bấm “Log”.

Nó thay việc nhẩm tính, không thay hiểu biết. Không có nó thì tính năng vẫn đầy đủ, vì gõ con số vào mới là con đường chính.

Mở một ticket khác thì đồng hồ bấm giờ đang chạy sẽ tạm dừng, và ticket mới cho bạn biết nó đang gắn với ticket nào.

Một cửa sổ bị che khuất không phải một lần nghỉ. Đồng hồ bấm giờ vẫn chạy nếu bạn chỉ nhấp sang chỗ khác.

Chống lại một đồng hồ bấm giờ bị bỏ chạy qua đêm thì có một thời lượng chạy tối đa. Giá trị bị cắt trần, không bao giờ bị vứt bỏ, và nhân viên xử lý được báo cho biết.

Ở thiết lập gốc, đồng hồ bấm giờ đang tắt. Bạn tìm thấy nó trong phần cài đặt ở mục “Stopwatch on the ticket”.

Đồng hồ bấm giờ đang chạy trên thẻ “Time spent” với số hiện tại, “Pause”, “Discard” và cái nút ghi nó lại.
Đồng hồ bấm giờ đang chạy. Khung đỏ nằm trên cái nút tiếp nhận con số; cho tới lúc đó chưa có gì được lưu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Có tính phí hay không

Chỉ có ở Professional

Mỗi mục đều mang một dấu tích “Billable”. Thời gian được ghi một lần, và cái dấu tích quyết định nó có lên hóa đơn hay không.

Vì thế ticket hiện hai tổng: bên trái là mọi thứ đã ghi, bên phải là tổng có tính phí.

Không có loại riêng cho phần làm thiện chí. Thiện chí, việc trong bảo hành và làm lại nội bộ ở mỗi công ty một tên gọi, còn hệ thống chỉ biết đúng một phân biệt mà tiền bạc bám vào.

Ghi phần thiện chí thì làm thế này: nhập thời gian như thường lệ, bỏ dấu tích và viết lý do vào ghi chú.

Khi đó mục này mang rõ chữ “not billable”. Số phút vẫn nằm trong tổng đã ghi, vì công việc thật sự đã diễn ra.

Ai hoàn toàn không ghi thời gian thì mất đúng cái con số mà về sau giải thích được vì sao một khách hàng bị tính ít tiền như vậy.

Nếu phần lớn công việc của bạn là không tính phí thì hãy đảo mặc định lại bằng công tắc “New entries are billable by default”.

Thẻ “Time spent” với cả hai tổng ở phần đầu và một mục mang dấu “not billable”.
Hai tổng đứng cạnh nhau ở phía trên. Khung đỏ nằm trên cái mục không có dấu tích: số phút của nó tính bên trái mà không tính bên phải.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Chính xác tới từng phút hay làm tròn lên

Chỉ có ở Professional

Ở thiết lập gốc, mọi thứ được tính tiền chính xác tới từng phút. Ai tính theo mười lăm phút thì đặt hai giá trị.

“Rounding increment (minutes)” là bước nhảy. Mỗi mục được làm tròn lên tới bội số kế tiếp.

“Minimum per entry (minutes)” là mức sàn. Mỗi mục được tính tiền với ít nhất giá trị này.

Hai thứ đó làm việc lần lượt: trước là mức sàn, sau là bước nhảy. Với mức sàn 20 và bước nhảy 15 thì năm phút thành ba mươi, vì kết quả phải thỏa mãn cả hai.

Bên dưới hai ô là một câu ví dụ dùng chính giá trị của bạn. Nó được tính ra, không phải được tuyên bố.

Chỉ giá trị tính tiền mới bao giờ được làm tròn, và chỉ theo từng mục — không bao giờ theo tổng. Vì thế hai mục nhỏ thì bị làm tròn lên hai lần.

Thời gian đã ghi thì vẫn nguyên vẹn. Đổi cách làm tròn về sau không làm sai lệch dữ liệu cũ nào, vì giá trị được tính ra vào lúc hiển thị.

Bạn thấy cả hai trên cái mục: ở đâu việc làm tròn đổi giá trị thì kết quả đứng bên cạnh trong ngoặc.

Các ô “Rounding increment” và “Minimum per entry” với câu ví dụ đã tính và dòng ghi chú bên dưới.
Khung đỏ nằm trên câu ví dụ, được tính từ những giá trị phía trên nó. Câu bên dưới nói việc làm tròn không đụng tới cái gì.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Một mục thời gian năm phút với giá trị tính tiền đứng bên cạnh trong ngoặc.
Khung đỏ nằm trên cái mục mà việc làm tròn đổi nó. Bên trái là cái đã ghi, trong ngoặc là cái được tính tiền.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Một mục thời gian trước khi đóng

Chỉ có ở Professional

Một nhà cung cấp dịch vụ thường không muốn ticket nào được đóng mà chưa ghi thời gian. Có một công tắc cho việc đó.

Nó tên là “Require a time entry before resolving or closing” và ở thiết lập gốc thì đang tắt.

Nó chỉ áp dụng khi một con người đổi trạng thái. Một nhân viên xử lý chưa có mục nào sẽ nhận một thông báo và ticket vẫn mở.

Việc đóng tự động, việc gộp và các thao tác hàng loạt thì không bao giờ bị chặn. Nếu không sẽ có những ticket mà không ai đóng được nữa.

Đây là cái công tắc nguy hiểm nhất của cả tính năng này. Chỉ bật nó lên khi nhóm của bạn thật sự ghi thời gian mỗi lần.

Công tắc “Require a time entry before resolving or closing” với câu nêu tên các ngoại lệ.
Khung đỏ nằm trên công tắc. Câu bên dưới nêu tên ba trường hợp không bao giờ bị chặn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Cột “Time” trong danh sách ticket

Chỉ có ở Professional

Danh sách ticket có thêm cột “Time” cho thấy một vụ việc đã được ghi bao nhiêu thời gian.

Bạn không phải bật nó lên. Nó xuất hiện ngay khi một ticket trong danh sách mang thời gian.

Trên những cửa sổ hẹp, nó là một trong những cột rơi ra sớm nhất. Khi đó danh sách giữ lại những cột mà thiếu chúng thì không tìm ra một ticket.

Danh sách ticket với một cột “Time” và giá trị trên những ticket có ghi thời gian.
Khung đỏ nằm trên cái cột. Chỉ những ticket có ghi thời gian mới mang một giá trị.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Báo cáo

Chỉ có ở Professional

Thời gian chỉ đứng trên một ticket đơn lẻ thì không phải cơ sở để lập hóa đơn. Vì thế trang báo cáo mang một thẻ “Time spent”.

Bốn con số đứng ở phía trên: đã ghi, đã tính tiền, số mục và số ticket thật sự có mang thời gian.

Con số cuối cùng là quan trọng nhất sau cái tổng. Bốn mươi giờ trên ba trong năm trăm ticket không phải một bản đánh giá — đó là ba nhân viên xử lý và chỉ mình họ ghi.

Bên dưới là các bảng phân tách: theo người yêu cầu, theo nhóm, theo danh mục và theo ngày.

Ngoài ra còn mỗi trường tùy chỉnh một bảng. Đó là con đường tới việc tính tiền theo công ty hay theo trung tâm chi phí: bạn tạo một trường tùy chỉnh, điền nó trên ticket, và báo cáo gộp theo nó.

Khoảng thời gian ở đầu trang áp cho cái ngày công việc được làm. Vì thế công việc tháng Bảy trên một ticket từ tháng Sáu thì nằm trong báo cáo tháng Bảy.

Một dòng ghi chú phía trên các con số đáng được coi trọng: chúng đến từ những mục do con người nhập và từ các quy tắc làm tròn của bạn. Chúng là cơ sở làm việc, không phải một hóa đơn đã được kiểm toán.

Trang báo cáo với thẻ “Time spent”, bốn con số của nó và các bảng bên dưới.
Thẻ này nằm trên trang báo cáo. Khung đỏ cho thấy tìm nó ở đâu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bốn ô số của thẻ: đã ghi, đã tính tiền, số mục và số ticket có thời gian.
Khung đỏ nằm trên số ticket có thời gian. Nó đặt cái tổng bên trái nó vào đúng tương quan.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Các bảng “By requester”, “By team” và “By category” với các dòng của chúng, mỗi dòng kèm thời gian đã ghi và thời gian tính tiền.
Khung đỏ nằm trên bảng phân tách theo danh mục. Mỗi dòng đều nêu cả hai tổng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bảng cho trường tùy chỉnh “Cost centre” với mỗi trung tâm chi phí một dòng.
Mỗi trường tùy chỉnh một bảng. Khung đỏ nằm trên bảng phân tách theo trung tâm chi phí.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
9

Bản xuất cho kế toán và cho khách hàng

Chỉ có ở Professional

Ba cái nút nằm bên dưới cái thẻ. Chúng cho ra từng mục riêng lẻ, không cho ra các tổng trên trang.

Đây là hai người nhận, không phải ba định dạng tệp. “Export entries (CSV)” và “Export entries (Excel)” đi tới kế toán: cả hai đều đầy đủ và không bao giờ bị cắt bớt.

“Export entries (PDF)” là tài liệu dành cho một con người. Nó đi tới khách hàng dưới dạng tệp đính kèm của hóa đơn.

Tệp PDF bị chặn ở 20.000 mục, và chính tài liệu đó nói vậy. Dù sao cũng không ai đọc một hóa đơn nhiều dòng hơn thế.

Cả ba tệp đều được dựng từ cùng một nguồn: bộ lọc, cách làm tròn, các cột và các con số chỉ tồn tại một lần, nên ba tệp không thể lệch nhau.

Một mục không tính phí thì có một ô trống trong cột tính phí, không phải số không. Một số không sẽ bị cộng vào trong bảng tổng hợp.

Ba nút “Export entries (CSV)”, “(Excel)” và “(PDF)” với những câu nêu khác biệt.
Khung đỏ nằm trên ba cái nút. Những câu bên dưới nói tệp nào dành cho ai.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang đầu của tệp PDF được tạo ra, với phần đầu, các con số và bảng từng mục riêng lẻ.
Đây là tài liệu mà khách hàng nhận được. Mỗi dòng là một mục kèm ngày, ticket, nhân viên xử lý, ghi chú và cả hai giá trị.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
10

Khách hàng không thấy thời gian đã ghi

Chỉ có ở Professional

Một khách hàng không bao giờ thấy các mục thời gian, kể cả trên ticket của chính mình.

Đây không phải một thiết lập mà là một chốt chặn trong máy chủ. Không có công tắc nào mở nó ra.

Lý do nằm ngay trong các mục đó: ghi chú được viết cho nhóm. Chúng nói cái gì đã trục trặc và việc truy tìm nguyên nhân đã mất bao lâu.

Những hệ thống khác cùng loại cũng làm như vậy. Ở đâu thời gian tới được tay khách hàng thì nó tới dưới dạng một tài liệu.

Bản xuất PDF có mặt vì thế: nó đi ra cùng hóa đơn chứ không lên ticket trong cổng thông tin khách hàng.

Xem thêm trong thẻ: Bản xuất cho kế toán và cho khách hàng

Vẫn ticket đó như khách hàng nhìn thấy: mô tả, bình luận và trạng thái, nhưng không có thẻ “Time spent”.
Vẫn ticket đó, nhìn từ phía người yêu cầu. Cái thẻ chứa thời gian hoàn toàn vắng mặt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
11

Phần tách theo từng nhân viên xử lý có thể tắt đi

Chỉ có ở Professional

Báo cáo còn hiện thêm được ai đã ghi bao nhiêu. Ở thiết lập gốc thì nó không hiện.

Thời gian theo từng người là dữ liệu về hiệu suất, và ở nhiều công ty thì hội đồng lao động có tiếng nói trong đó.

Công tắc tên là “Per-agent evaluation” và nằm trong phần cài đặt.

Chừng nào nó còn tắt thì máy chủ thậm chí không cung cấp các con số. Cái bảng không bị ẩn — nó không tồn tại.

Khác biệt đó là quan trọng. Một chốt chặn mà chỉ phần hiển thị biết tới thì không phải một chốt chặn.

Xem thêm trong thẻ: Không có lịch sử tình trạng sẵn sàng, không có đánh giá theo từng người

Báo cáo với các bảng theo nhóm và theo ngày, không có bảng nào theo từng nhân viên xử lý.
Đây là báo cáo ở thiết lập gốc. Giữa danh mục và ngày thì không có bảng nào theo từng nhân viên xử lý.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn chỗ đó với công tắc đã bật: một bảng “By agent” với mỗi nhân viên xử lý một dòng.
Vẫn chỗ đó sau khi công tắc được bật lên. Giữa “By category” và “By day” giờ đã có một bảng theo từng nhân viên xử lý.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Báo cáo và bảng điều khiển

Bảng điều khiển cho thấy một nhóm đang ở đâu. Báo cáo trả lời một câu hỏi mà bạn tự đặt ra. Cả hai đều chỉ đọc; không cái nào từng đổi một ticket. Ngoài các trường của riêng bạn, cả khối này thuộc về Basic.

1

Bảng điều khiển: mọi thứ đang ở đâu

Ở phía trên là mỗi trạng thái một ô số kèm số lượng của nó. Bên dưới chúng là ba con số cho cả nhóm: “Total tickets”, “Tickets which are not Closed” và “Avg. resolution time”.

Con số ở giữa là con số quan trọng. Nó nói ngay lúc này có bao nhiêu việc đang mở.

“Avg. resolution time” vẫn trống chừng nào chưa có ticket nào được xử lý xong. Một dấu gạch thì trung thực hơn một số không.

Thẻ “Top 3 longest open tickets” nêu tên ba vụ việc đang mở lâu nhất kèm tuổi của chúng. Đó là những vụ mà không ai còn nhắc tới nữa.

Bên dưới là ba biểu đồ: “Tickets by status”, “Tickets by priority” và “Tickets by category”.

Bảng điều khiển luôn hiện trạng thái hiện tại. Ở đây bạn không chọn được khoảng thời gian; báo cáo có mặt cho việc đó.

Bảng điều khiển của nhóm Helpdesk với các ô trạng thái ở trên và ba con số then chốt bên dưới.
Khung đỏ nằm trên ba con số then chốt. Trong thế giới ví dụ này, nhóm có 22 ticket, trong đó 20 chưa đóng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Top 3 longest open tickets” với ba vụ việc và tuổi của chúng.
Một cú nhấp lên một mục sẽ mở ticket đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Các biểu đồ “Tickets by status”, “Tickets by priority” và “Tickets by category”.
Các danh mục là danh mục của chính nhóm đó. Một nhóm khác thì hiện những danh mục khác ở đây.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Mỗi nhóm có một bảng điều khiển riêng

Thanh bên mang mỗi nhóm một mục. Nó tên là “Dashboard” theo sau là tên nhóm.

Mỗi mục chỉ hiện ticket của chính nhóm mình. Vì thế các con số, các danh mục và những vụ việc lâu nhất đều khác nhau theo từng nhóm.

Quyền bám vào từng bảng điều khiển một. Bạn cấp cho một vai trò quyền vào một nhóm mà không cấp quyền vào nhóm kia được.

Ai không có quyền với một bảng điều khiển thì hoàn toàn không thấy cái mục đó. Một mục bị chặn mà vẫn hiện ra thì chỉ làm nảy sinh thắc mắc.

Bảng điều khiển của nhóm Helpdesk, với mục “Dashboard · Helpdesk” trên thanh bên được làm nổi.
Khung đỏ nằm trên mục ở thanh bên. Trong thế giới ví dụ này, Helpdesk hiện 22 ticket.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Vẫn bảng điều khiển đó cho nhóm Network với những con số khác và những danh mục khác.
Vẫn trang đó, một nhóm khác. Ở đây là 6 ticket, và các danh mục là “Wi-Fi” và “Firewall”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Tạo và lọc báo cáo

Trang “Reports” khi bạn mở ra thì đang trống. Chỉ có ô bộ lọc ở đó.

Chỉ cú nhấp lên “Generate report” mới khởi động việc tính toán. Nó mất một lúc, vì mọi phần được tính cùng lúc.

Đó là có chủ ý. Một báo cáo tính lại theo từng phím gõ thì trên một khối dữ liệu lớn sẽ không dùng được.

Sau đó bốn con số then chốt đứng ở phía trên và các biểu đồ nằm bên dưới chúng.

Mỗi biểu đồ đều nêu con số của mình. Các vòng tròn in số lượng và tỷ lệ trong phần chú giải bên cạnh; các thanh in số lượng phía trên thanh.

Ô bộ lọc phía trên là nơi bạn đặt câu hỏi. Bạn chọn được khoảng thời gian qua “From” và “To”, nhóm, trạng thái, nhân viên xử lý, người yêu cầu, địa điểm, mức ưu tiên, danh mục chính và danh mục con, cùng cái kênh mà ticket đã đi vào.

Nếu bạn đặt nhiều ô thì chúng áp dụng cùng lúc. “Khoảng tháng Bảy, nhóm Helpdesk, mức ưu tiên High” là một câu hỏi duy nhất.

Khoảng thời gian tính theo cái ngày ticket được tạo.

Có một ngoại lệ. Báo cáo thời gian tính theo cái ngày công việc được làm. Vì thế công việc tháng Bảy trên một ticket từ tháng Sáu thì xuất hiện trong báo cáo tháng Bảy.

Sau mỗi lần đổi bộ lọc, bạn phải nhấp “Generate report” lần nữa.

Trang này cũng mang các bản phân tích của những tính năng khác. Chúng chỉ hiện ra khi tính năng đó đang bật và trong khoảng thời gian đã chọn có gì đó đã xảy ra.

Chúng được giải thích ở nơi chúng thuộc về: thời hạn ở mục “Số liệu SLA trong báo cáo”, đánh giá ở mục “Bản phân tích các đánh giá”, phân phối ở mục “Việc phân phối đã làm gì” và công sức ở mục “Báo cáo thời gian”.

Trang báo cáo ngay sau khi mở: chỉ có ô bộ lọc, không có con số nào.
Khung đỏ nằm trên “Generate report”. Chừng nào chưa có ai nhấp nó thì trang vẫn trống.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Ô bộ lọc của trang báo cáo với khoảng thời gian, nhóm, trạng thái, nhân viên xử lý, các danh mục và kênh.
Mọi ô đều áp dụng cùng lúc. Để trống nghĩa là “tất cả”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Báo cáo đã tạo với bốn con số then chốt và những biểu đồ đầu tiên bên dưới.
Trong thế giới ví dụ này có 28 ticket. Mỗi thanh mang số lượng của mình ở phía trên, còn các vòng tròn hiện số lượng và tỷ lệ bên cạnh chúng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Lọc và gộp theo các trường của riêng bạn

Chỉ có ở Professional

Nếu bạn đã tạo những trường của riêng mình thì báo cáo mời chúng y như những trường dựng sẵn.

Mỗi trường của bạn đều nhận một bộ lọc trong cái ô đó và một biểu đồ riêng trong báo cáo.

Điều đó trả lời những câu hỏi mà chỉ công ty bạn mới đặt ra. “Bao nhiêu ticket đi về trung tâm chi phí nào?” là một trong số đó.

Tên các biểu đồ chính là tên các trường của bạn. Chúng không được dịch, vì chúng đến từ bản cài đặt của bạn.

Bạn tạo những trường của riêng mình ở đâu thì được mô tả ở mục “Trường tùy chỉnh”.

Hai biểu đồ dựng từ các trường tùy chỉnh: “Asset tag” và “Cost centre”.
Thế giới ví dụ này có các trường “Asset tag” và “Cost centre”. Bản cài đặt của bạn thì hiện những trường của chính bạn ở đây.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Báo cáo hiện những cột nào

Ở mục “Settings → Report Settings” bạn quyết định báo cáo mời những trường nào.

Trang này có ba phần: “Admin”, “Agent” và “Customer”. Mỗi phần mang cùng một danh sách với những công tắc riêng của nó.

Một trường bạn tắt ở đây thì với vai trò đó nó biến khỏi bộ lọc và khỏi bản xuất.

Ở thiết lập gốc, quản trị viên và nhân viên xử lý thấy tất cả. Khách hàng thấy ít hơn, vì họ không cần nhân viên xử lý, địa điểm hay mức ưu tiên.

Những trường của riêng bạn xuất hiện ở mục “Custom fields” trong cùng danh sách đó.

Trang “Report Settings” với ba phần “Admin”, “Agent” và “Customer”.
Khung đỏ nằm trên phần “Customer”. Mỗi vai trò có một danh sách riêng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Khách hàng tự lấy một báo cáo của riêng mình

Một khách hàng mở được đúng cái báo cáo như một nhân viên xử lý. Trong đó họ chỉ thấy ticket của chính mình.

Giới hạn nằm trong hệ thống, không nằm trong bộ lọc. Một khách hàng không lách qua được nó kể cả khi tự gõ địa chỉ bằng tay.

Bạn mở khóa nó trên nhóm. Công tắc nằm ở mục “Settings → Teams” và tên là “Has permission to view their own Tickets in the Dashboard and in Reports for this Team”.

Ở thiết lập gốc nó đang tắt. Chừng nào nó còn tắt thì một khách hàng không tìm thấy bảng điều khiển lẫn báo cáo.

Khách hàng thấy những cột nào thì đến từ phần “Customer” của phần cài đặt báo cáo.

Phần xuất tệp cũng mở cho họ. Một khách hàng tải được ticket của chính mình về dưới dạng CSV, Excel hay PDF.

Công tắc trên nhóm mở bảng điều khiển và báo cáo cho một khách hàng.
Công tắc nằm trong ô “Team details”. Nó áp cho đúng nhóm này.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang báo cáo nhìn từ một tài khoản khách hàng, với ít bộ lọc hơn và những con số nhỏ hơn.
Vẫn trang đó nhìn từ tài khoản của Julia Becker. Trong thế giới ví dụ này, cô ấy thấy 8 ticket thay vì 28, và bộ lọc theo nhân viên xử lý thì vắng mặt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Xuất ra CSV, Excel hay PDF

Bên dưới ô bộ lọc là ba cái nút: “CSV export”, “Excel export” và “PDF export”.

Cả ba đều cho ra cái đang nằm trên màn hình, nên bộ lọc cũng áp dụng.

Tệp Excel có hai trang tính. “Key figures” chứa các con số, “Tickets” chứa từng vụ việc riêng lẻ.

Các con số và biểu đồ thì luôn được kèm theo. Danh sách từng ticket riêng lẻ thì chỉ khi bạn tích “Include ticket table in export”.

Khi bạn tích vào, số ticket thật và số trang ước tính hiện ra bên dưới.

Với rất nhiều ticket thì còn hiện thêm một cảnh báo màu đỏ. Nó nói việc xuất có thể mất một lúc.

CSV và Excel chứa mọi dòng. Tệp PDF dừng ở 20.000 ticket và ghi điều đó vào trong tài liệu.

Giới hạn đã hiện ra trên trang trước khi bạn xuất. Một giới hạn mà bạn chỉ biết tới trong tài liệu đã xong thì tới quá muộn.

Ba nút xuất và bên dưới chúng là ô đánh dấu cho bảng ticket.
Khung đỏ nằm trên ô đánh dấu. Chỉ khi nó được tích thì dòng có số ticket mới hiện ra. Trong thế giới ví dụ này là 28 ticket và khoảng 4 trang.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
8

Tệp PDF in các con số bên cạnh biểu đồ

Tệp PDF được làm để chuyển tay. Nó chứa đúng những biểu đồ đang đứng trên màn hình.

Cạnh mỗi biểu đồ là con số mà nó được dựng từ đó và tỷ lệ tính theo phần trăm.

Chúng có mặt vì thế. Một cái thanh thì nhìn được, nhưng không kiểm tra được.

Trên màn hình, con trỏ chuột hiện đúng con số đó. Trên một tờ giấy in thì không có con trỏ chuột nào.

Tài liệu nêu khoảng thời gian và ngày nó được tạo ra ở phía trên.

Một trang của tệp PDF được tạo ra, với một biểu đồ và các con số của nó bên cạnh.
Tài liệu đúng như người nhận có được. Cạnh mỗi cái thanh là số lượng và tỷ lệ.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Khảo sát mức hài lòng (CSAT)

Khi một ticket đã đóng, bạn hỏi khách hàng xem mọi chuyện đã diễn ra thế nào. Cả khối này thuộc về Professional.

1

Phiếu khảo sát sau khi đóng

Chỉ có ở Professional

Trước khi bắt đầu: Hai thứ phải sẵn sàng, nếu không thì chẳng có gì xảy ra. Việc gửi e-mail phải được thiết lập. Và ở mục “Settings → Security”, địa chỉ công cộng của bản cài đặt này phải đúng, vì liên kết trong bức thư được dựng từ đó. Nếu địa chỉ lưu ở đó sai thì hệ thống vẫn gửi phiếu khảo sát, còn khách hàng của bạn thì rơi vào một trang không tồn tại.

Khi một ticket được đóng, người yêu cầu nhận một e-mail có năm ngôi sao. Mỗi ngôi sao là một liên kết riêng, và một cú nhấp là toàn bộ câu trả lời.

Bức thư không đi ra ngay lập tức. Hệ thống chờ một giờ sau khi đóng, và từ đó trở đi một dịch vụ chạy nền gửi những phiếu khảo sát đến hạn sau mỗi mười phút. Một giờ là có chủ ý: một ticket được mở lại ngay thì không nên kích hoạt một phiếu khảo sát.

Mỗi ticket có đúng một phiếu khảo sát. Kể cả khi một ticket được mở lại rồi đóng lại về sau, hệ thống cũng không hỏi lần thứ hai.

Liên kết không cần tài khoản khách hàng và có hiệu lực 30 ngày. Cho tới lúc đó, khách hàng của bạn đổi được đánh giá — nhấp nhầm ngôi sao thì thường gặp hơn là lạm dụng.

Bình luận là tùy chọn. Nhấp một ngôi sao đã là một đánh giá; ai muốn nói thêm thì tìm thấy một ô cho việc đó trên trang và xác nhận bằng “Update rating”.

Trang này chỉ hiện số và tiêu đề của ticket. Mô tả, bình luận và lịch sử thì không nằm trên đó: liên kết là quyền đánh giá, không phải quyền đọc — nó có thể bị chuyển tiếp, hoặc rơi vào một hộp thư dùng chung.

Cú nhấp từ bức thư chỉ ghi lại đánh giá khi trang đã nạp xong. Vì thế trình quét vi-rút và các bộ tải trước không đánh giá ticket của bạn: chúng lấy địa chỉ về, nhưng không chạy JavaScript. Với một con người thì đó vẫn chỉ là một cú nhấp.

Đánh giá quay về thì nằm trên ticket, nơi nhân viên xử lý và quản trị viên của nhóm phụ trách thấy được nó. Khách hàng không bao giờ thấy nó ở đó, kể cả đánh giá của chính mình.

Không phải ticket đã đóng nào cũng được hỏi. Không có địa chỉ của người yêu cầu thì hoàn toàn không có thư nào đi ra, và những lượt báo trùng đã gộp cũng như những lượt báo gắn vào một sự cố lớn thì cũng nằm ngoài — xử lý xong một ticket sự cố sẽ đóng mọi lượt báo gắn vào nó chỉ bằng một cú nhấp, và không có ngoại lệ đó thì mỗi người báo sẽ được khảo sát về cùng một phần việc.

Bức thư khảo sát trong hộp thư của khách hàng với năm dòng ngôi sao và liên kết tới trang khảo sát.
Phiếu khảo sát tới nơi như thế này. Mỗi dòng trong năm dòng là một liên kết riêng, bên dưới chúng là đường dẫn tới trang có ô bình luận. Địa chỉ trong các liên kết là địa chỉ bạn đã lưu ở mục “Security”.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trang khảo sát với năm ngôi sao, đánh giá đã đặt, một ô bình luận và nút “Update rating”.
Trang sau khi nhấp vào ngôi sao thứ năm: đánh giá đã được lưu, ô bình luận vẫn để mở. Chỉ số và tiêu đề của ticket được hiện ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Đánh giá trên ticket với năm ngôi sao và bình luận của khách hàng.
Vẫn kết quả đó trên ticket. Khung đỏ nằm trên đánh giá — nó ở đây dành cho nhóm, không dành cho khách hàng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Bật nó lên và giới hạn nó

Chỉ có ở Professional

Phiếu khảo sát có đúng một chỗ để thiết lập: ở mục “Settings → General”, trong thẻ “Customer Satisfaction Score (CSAT)”, với ba nút điều khiển trên đó. Không có khu vực cài đặt riêng nào cả.

“Send satisfaction surveys” bật việc gửi lên; ở thiết lập gốc thì nó đang tắt. Chỉ những ticket được đóng sau khi bạn bật mới được khảo sát — nếu không, toàn bộ tồn đọng của bạn sẽ nhận thư trong một lượt.

Nếu bạn tắt nó đi lần nữa thì những đánh giá đã có vẫn hiện. Chỉ là không có gì mới đi ra nữa.

Phía trên các công tắc, bạn thấy cái địa chỉ mà các liên kết được dựng từ đó. Nó ở đó để được kiểm tra, không phải để được sửa: bạn đổi nó ở đúng một nơi mà nó được chăm sóc, và dòng gợi ý bên cạnh dẫn bạn tới đó.

Công tắc ở giữa, “Per-agent evaluation”, thuộc về báo cáo. Nó làm gì ở đó, và vì sao ở thiết lập gốc nó đang tắt, thì nằm trên cái thẻ nói về báo cáo.

“At most one survey per requester within” giới hạn việc cùng một người được hỏi bao lâu một lần. Thiết lập gốc là 7 ngày: ai gửi nhiều ticket trong khoảng đó thì vẫn chỉ được hỏi một lần.

Với số 0 thì bạn hỏi ở mọi ticket đã đóng. Với một bộ phận hỗ trợ nội bộ thì như vậy thường là quá nhiều, vì cùng những người ấy báo đi báo lại; còn một bộ phận khách hàng với nhiều người gửi khác nhau thì hiếm khi chạm tới giới hạn.

Phiếu khảo sát có chủ ý được làm đơn giản. Thang đo cố định từ một tới năm ngôi sao, và độ trễ một giờ cùng hiệu lực 30 ngày cũng vậy. Hai thang đo khác nhau trong cùng một cơ sở dữ liệu sẽ khiến báo cáo lấy trung bình những thứ không so sánh được với nhau.

Xem thêm trong thẻ: Báo cáo về các đánh giá

Thẻ “Customer Satisfaction Score (CSAT)” với hai công tắc và ô số cho phần giới hạn.
Toàn bộ phần thiết lập nằm trên một thẻ. Các khung đỏ nằm trên hai công tắc và trên cái ô cho phần giới hạn; phía trên chúng là địa chỉ mà các liên kết được dựng từ đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Public address of this installation” với ô địa chỉ và dòng “Currently in use”.
Bản thân địa chỉ được chăm sóc ở mục “Settings → Security”. Dòng bên dưới cho bạn biết ngay lúc này địa chỉ nào đang được dùng và nó từ đâu ra.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Báo cáo về các đánh giá

Chỉ có ở Professional

Ở mục “Reports”, phần hài lòng có khu vực riêng, “Customer satisfaction (CSAT)”. Nó xuất hiện trong cùng báo cáo với mọi thứ khác và theo cùng những bộ lọc — khoảng thời gian, nhóm, danh mục và nhân viên xử lý.

Năm ô số nằm ở phía trên. “Average score” là trung bình số sao, “Satisfaction rate (4-5 stars)” cho bạn biết bao nhiêu phần đã hài lòng, “Response rate” là bao nhiêu người đã trả lời, và “Surveys sent” đếm số phiếu khảo sát đã đi ra. Bên dưới cả hai tỷ lệ, bạn tìm thấy bằng chữ nhỏ cái phân số mà chúng được dựng từ đó.

“Closed without survey” là ô số thứ năm. Nó đếm những ticket đã đóng mà chưa từng được hỏi, kèm tổng số ticket đã đóng ở bên dưới. Không có con số đó thì bạn sẽ coi một tỷ lệ là bức tranh về khách hàng của mình, mà nó lại dựa trên một tập con bạn không nhìn thấy.

Con số quan trọng nhất không phải cái trung bình, mà là tỷ lệ trả lời. Một điểm số đẹp dựng trên ít câu trả lời thì nói lên rất ít về khách hàng của bạn.

Bên dưới là phần phân bố: với mỗi mức sao từ năm xuống một, một cái thanh cho thấy nó được cho bao nhiêu lần, kèm con số bên cạnh. Rồi tới “Trend”, mỗi ngày có người trả lời một dòng, với ngày tháng, trung bình của ngày đó dưới dạng một thanh và số câu trả lời. Cuối cùng là “By agent” với mỗi nhân viên xử lý một dòng và “Latest comments” với những gì người ta thật sự đã viết. Một phần phân tách “By team” gia nhập ngay khi có hơn một nhóm có ticket được đánh giá.

Bạn tắt được phần tách theo từng nhân viên xử lý. “Per-agent evaluation” ở thiết lập gốc thì tắt, vì đánh giá theo từng người là dữ liệu về hiệu suất — ở nhiều công ty thì hội đồng lao động có tiếng nói trong đó, còn với các nhà cung cấp đám mây thì cách đánh giá này thường hoàn toàn không tắt được.

Công tắc có tác dụng trên máy chủ chứ không chỉ trên màn hình: khi nó tắt, phần tách đó cũng vắng mặt trong bản xuất.

Đánh giá đơn lẻ trên một ticket thì không bị ảnh hưởng và vẫn hiện với nhóm. Công tắc quản việc đánh giá xuyên qua các con người, không quản cái được hiện trên một vụ việc.

Bộ lọc “Satisfaction” thu hẹp báo cáo xuống còn các đánh giá. “Rated only” hiện những ticket đã được đánh giá, “Not rated” hiện những ticket chưa được đánh giá, và với “Score from” cùng “Score to” bạn xem được mọi ticket có một hay hai sao. Bộ lọc áp cho cái bảng và cho cả hai bản xuất.

Khu vực “Customer satisfaction (CSAT)” của báo cáo với năm con số then chốt và phần phân bố các ngôi sao.
Năm ô số của khu vực này. Khung đỏ nằm trên “Closed without survey” — con số đặt tỷ lệ trả lời vào đúng tương quan.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Khu vực “Trend” với mỗi ngày một dòng, trung bình dưới dạng một thanh và số câu trả lời.
Diễn biến theo thời gian. Với mỗi ngày, bạn thấy ngày tháng, trung bình dưới dạng một thanh kèm con số bên cạnh, và bên phải là bao nhiêu câu trả lời tới trong ngày đó. Trong ví dụ thì cả hai câu trả lời tới trong cùng một ngày, nên chỉ có một dòng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Phần tách “By agent” với mỗi nhân viên xử lý một dòng, cùng những bình luận mới nhất.
Phần tách theo từng nhân viên xử lý, cùng với các bình luận đúng như chúng được viết. Chính phần này của báo cáo là phần bạn tắt được.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Một đánh giá kém làm điều kiện kích hoạt

Chỉ có ở Professional

Một đánh giá có thể kích hoạt một quy tắc. Trong trình sửa quy tắc ở mục “Settings → Automation” có một điều kiện cho việc đó, “Satisfaction rating (CSAT)”, và bên cạnh nó bạn chọn “is at most”, “is at least”, “is” hay “is not”. Ô thứ ba chứa số sao, từ một tới năm, kèm con số bên cạnh.

Trường hợp thông thường là “is at most 2”. Phía trên quy tắc, khi đó bạn đọc được cái câu mà trình sửa viết theo: “When a ticket was rated 2 stars or fewer, then send an e-mail to the assignee.”

Quy tắc này không cần điều kiện thời gian, nên khối “WHEN” vẫn để trống. Điều đó làm nó thành ngoại lệ giữa các quy tắc: mọi quy tắc khác đều chờ cho một thời gian không có gì xảy ra, còn quy tắc này thì chờ một sự kiện.

Làm hành động thì bạn có mọi thứ mà một quy tắc dù sao cũng làm được: gửi một bức thư, nâng mức ưu tiên, chuyển ticket sang nhóm khác, hoặc đặt một lần nhắc việc.

Có một thứ ở đây hoạt động khác. Bình thường các quy tắc để yên những ticket đã đóng, nhưng một đánh giá thì gần như luôn tới trên một ticket đã đóng — nên một quy tắc có điều kiện này cũng với tới những ticket đã đóng. Mọi quy tắc khác thì vẫn không.

Điều kiện này không bao giờ áp cho một ticket chưa có đánh giá, và điều đó gồm cả “is not” — nếu không thì “không phải năm sao” sẽ trúng toàn bộ tồn đọng chưa được đánh giá của bạn. Nếu bạn muốn biết bao nhiêu người đã không trả lời thì đó là tỷ lệ trả lời trong báo cáo.

Quy tắc tác động một lần cho mỗi đánh giá. Bên dưới nó, “Log” mở bảng “What this rule did” với mỗi ticket một dòng, nên bạn thấy được nó chạy khi nào và làm gì.

Trình sửa quy tắc với điều kiện “Satisfaction rating (CSAT) is at most 2” và câu tóm tắt phía trên nó.
Điều kiện trong trình sửa. Các khung đỏ nằm trên điều kiện và trên câu phía trên nó, và câu đó tự viết lại theo mỗi thay đổi.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Bảng “What this rule did” với một dòng cho cái ticket bị đánh giá kém.
Nhật ký của quy tắc. Dòng này hiện ticket, thời điểm và hành động đã được thực hiện.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Cơ sở tri thức

Phần ngăn ticket phát sinh: những cách xử lý được viết ra một lần, được nhóm của bạn tìm lại — và được gợi ý cho người yêu cầu ngay khi họ còn đang gõ. Mọi thứ trong khối này thuộc về Basic.

1

Ô chủ đề với bài viết và tệp đính kèm

Bạn tới cơ sở tri thức qua “Knowledge Base” ở thanh bên trái. Trang tổng quan gồm những cái ô — mỗi chủ đề một ô. Con số ở góc trên bên phải của một ô là số bài đã công bố; bên dưới là tên và mô tả của chủ đề. Một cú nhấp lên cái ô dẫn tới danh sách các bài, mỗi bài kèm tác giả, ngày thay đổi và những dòng đầu của phần chữ.

Bạn không tạo chủ đề ở đây mà tạo ở mục “Settings → Knowledge Base” (xem thẻ “Khả năng nhìn thấy theo từng chủ đề”). Không có lấy một chủ đề thì trang tổng quan chẳng hiện gì ngoài một dòng ghi chú — một bài viết luôn cần một chủ đề.

Bạn viết bằng “New entry” trên một trang chủ đề. Trình soạn hỏi ba thứ: “Title”, “Topic” và “Content”. Đó là cùng trình soạn như trong một ticket, với cùng thanh công cụ: “Bold”, “Italic”, “Underline”, “Strikethrough”, “Text color”, “Highlight color”, “Bullet list”, “Numbered list”, “Quote”, “Link” và “Clear formatting”. Một liên kết được tạo như trong một ticket: chọn phần chữ, nhấp “Link”, nhập địa chỉ — địa chỉ web và địa chỉ thư được phép (http, https, mailto). “Save” vẫn xám chừng nào còn thiếu tiêu đề hoặc chủ đề, và một bài không có phần chữ thì bị từ chối: riêng tệp đính kèm không làm nên một bài viết.

Hình ảnh vào phần chữ qua bảng tạm, y như trong một ticket: chụp màn hình, dán vào trình soạn bằng Ctrl+V. Một dấu như “[inline-image:1]” hiện ra trong phần chữ; khi lưu, hệ thống tải hình lên và hiện nó đúng chỗ đó. Ngoài ra nó còn xuất hiện bên dưới ở mục “Attachments” — đó là nơi bạn xóa nó đi. Dán được PNG, JPEG và GIF.

Bạn chỉ đính kèm tệp khi bài viết đã được lưu: ở cuối trang bài viết là thẻ “Attachments” với nút “Upload file”. Các loại tệp được phép và kích thước thì giống như với một ticket (tối đa 50 MB mỗi tệp). Ai đã tải một tệp lên thì gỡ nó ra được; quản trị viên gỡ được bất kỳ tệp nào.

Quản trị viên thì luôn được viết, nhân viên xử lý thì được chừng nào công tắc trong phần cài đặt cho phép (xem thẻ “Phê duyệt”). Khách hàng chỉ đọc. Một quản trị viên xóa được bất kỳ bài nào; tác giả xóa được bài của mình chừng nào nó còn đang chờ phê duyệt.

Trang tổng quan cơ sở tri thức với ba ô chủ đề và mục menu “Knowledge Base” đóng khung đỏ.
Đường vào: “Knowledge Base” ở thanh bên trái. Mỗi ô là một chủ đề; con số nêu số bài đã công bố, còn nhãn màu vàng cam nêu số bài đang chờ.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trình soạn “New entry” với các ô Title và Topic, thanh công cụ của trình soạn và nút “Save” đang bị làm xám.
Tiêu đề, chủ đề, nội dung. Chừng nào chưa chọn chủ đề thì “Save” vẫn xám — trong khung đỏ là cái lựa chọn còn thiếu ở đây.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Một bài trong cơ sở tri thức với phần chữ đã định dạng, một hình ảnh dán vào chụp màn hình máy in, một danh sách đánh số và thẻ “Attachments” chứa hai tệp.
Một bài đã hoàn chỉnh: phần đầu với chủ đề, tác giả và phê duyệt, bên dưới là phần chữ kèm một hình ảnh dán vào. Ở dưới cùng là cả hai tệp — bản hướng dẫn nhanh để tải về và cái hình đã dán.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Khả năng nhìn thấy theo từng chủ đề: chỉ nội bộ hay mở cho khách hàng

Trước khi bắt đầu: Khả năng nhìn thấy bám vào CHỦ ĐỀ, không bám vào từng bài. Một ghi chú nội bộ nằm trong một chủ đề mở cho khách hàng thì khách hàng đọc được ngay khi nó được công bố — hãy tính trước cách chia chủ đề của bạn, và chuyển một bài sang chủ đề khác qua “Edit” nếu cần.

Bạn chăm sóc các chủ đề ở mục “Settings → Knowledge Base” trong thẻ “Topics”. Mỗi dòng mang một cái tên, một mô tả, một số thứ tự cho trật tự các ô, công tắc “Visible to customers” và hai cái nút để lưu và xóa — bạn lưu theo từng dòng, không lưu cả thẻ.

Khi công tắc tắt, chỉ nhân viên xử lý và quản trị viên thấy chủ đề, các bài trong đó và tệp đính kèm của chúng — một khách hàng thậm chí không nhận được cái ô và cũng không tìm ra các bài qua tìm kiếm. Khi bật, khách hàng thấy chủ đề và những bài đã công bố bên trong nó; những bài chưa công bố thì dù sao cũng vẫn ẩn.

Bạn tạo một chủ đề mới ở cái dòng nét đứt bên dưới: nhập một cái tên, chọn khả năng nhìn thấy, bấm “Add topic”. Một chủ đề chỉ xóa được khi nó còn rỗng — nếu không, bạn sẽ xóa luôn các bài của nó mà không nhìn thấy chúng.

Thẻ “Topics” với ba chủ đề; công tắc “Visible to customers” đang bật ở chủ đề thứ nhất và tắt ở “Internal runbooks”.
Khác biệt nằm ở hai khung đỏ: “Printing” được mở cho khách hàng, “Internal runbooks” thì không. Bạn lưu theo từng dòng bằng cái nút màu cam ở bên phải.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Gợi ý cách xử lý ngay khi ticket đang được tạo

Ngay khi có ba ký tự đứng trong ô “Title” của biểu mẫu “Create new ticket”, hệ thống tìm ở nền và hiện ra ô “Possible solutions from the knowledge base” — tối đa năm bài khớp với tiêu đề. Ai tìm thấy câu trả lời của mình ở đó thì không tạo ticket nữa; đó là toàn bộ mục đích.

Chỉ TIÊU ĐỀ được tìm, không tìm phần mô tả. Vẫn quy tắc như trong tìm kiếm: một gợi ý phải chứa ít nhất một nửa số từ của tiêu đề — tiêu đề càng chính xác thì gợi ý càng ít và càng hợp. Một cú nhấp lên một gợi ý sẽ mở nó trong một thẻ mới để cái biểu mẫu điền dở không bị mất; “Open knowledge base” ở dưới cùng dẫn tới trang tổng quan đầy đủ.

Khả năng nhìn thấy cũng áp dụng ở đây: một khách hàng chỉ được gợi ý những bài đã công bố của các chủ đề mở cho khách hàng. Với tư cách nhân viên xử lý, bạn còn thấy cả những chủ đề nội bộ và những bài còn đang chờ phê duyệt.

Ô “Title” của biểu mẫu tạo ticket với ô “Possible solutions from the knowledge base” và các gợi ý bên dưới nó.
Mới chỉ gõ tiêu đề — cái ô bên dưới tự hiện ra. Ở trên cùng là những bài khớp với tiêu đề nhất.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Biến một ticket đã xử lý xong thành một bài viết

Trước khi bắt đầu: MỌI THỨ được mang sang: phần mô tả và mọi bình luận, kể cả những bình luận nội bộ. Phần chữ là một bản sao, không phải một liên kết — hãy đọc lại và gỡ bỏ tên người, số điện thoại, địa chỉ e-mail và số đơn hàng trước khi bạn lưu. Sau đó, bất cứ ai được thấy chủ đề ấy đều đọc được nó.

Ở góc trên bên phải của mỗi ticket là nút “Add to knowledge base”. Cái nút mở trình soạn cho một bài mới, đã điền sẵn tiêu đề của ticket và toàn bộ diễn biến của nó: phần mô tả làm đoạn đầu tiên, mọi bình luận bên dưới dưới dạng trích dẫn.

Riêng cái đó thì chưa đem lại gì cho bạn — nó là nguyên liệu thô. Điểm mấu chốt là bạn biến nó thành một bản hướng dẫn: cắt gọn xuống còn cái sẽ giúp ích cho lần sau, và viết lại tiêu đề nếu nó nghe như một vụ việc đơn lẻ (“Printer on 2nd floor pulls two sheets” thành “Clearing a paper jam”).

Không có chủ đề nào được chọn sẵn, cái đó bạn tự chọn. Bài viết được lưu như mọi bài khác: công bố ngay nếu bạn là quản trị viên, gửi đi chờ phê duyệt nếu bạn là nhân viên xử lý. Sau đó, tham chiếu nội bộ “Source: Ticket #1” vẫn ở lại trên bài — nó là một cú nhảy ngược về vụ việc và khách hàng không thấy.

Một ticket với nút “Add to knowledge base” đóng khung đỏ ở góc trên bên phải.
Cái nút nằm ở góc trên bên phải của mỗi ticket — bất kể ticket đang ở trạng thái nào. Nó dành cho vụ việc đã được xử lý xong.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Trình soạn “New entry” đã điền sẵn tiêu đề và diễn biến của ticket, phía trên là dòng thông báo đóng khung đỏ về ticket nguồn.
Dòng thông báo trong khung đỏ nói điều quan trọng. Trong phần chữ bên dưới là ghi chú nội bộ kèm số đơn đặt hàng — đúng cái phải biến đi trước khi lưu.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Phê duyệt: bài của một nhân viên xử lý chờ quản trị viên

Nhân viên xử lý có được viết hay không thì do công tắc “Agents can create entries” ở mục “Settings → Knowledge Base” quyết định. Mặc định nó đang bật. Khi tắt, đó là một ranh giới cứng: nút “New entry” biến mất, và gọi thẳng trình soạn cũng bị từ chối.

Có đúng hai trạng thái — “Awaiting review” và “Published”; không có bản nháp nào để bạn lặng lẽ làm mà không ai thấy. Ai viết thì quyết định trạng thái: một quản trị viên công bố ngay lập tức. Một nhân viên xử lý tạo ra một bài mang dấu “Awaiting review” — nhân viên xử lý và quản trị viên thấy, khách hàng thì không. Trên ô chủ đề, nhãn màu vàng cam “1 awaiting review” hiện ra vì nó.

Các quản trị viên còn nhận thêm một e-mail ngay khi có một bài chờ phê duyệt. Đó là phần thêm, không phải điều kiện: nếu không thiết lập việc gửi thư thì cái nhãn vẫn là cách để phát hiện một bài đang chờ. Bạn phê duyệt trên trang của bài viết bằng “Approve & publish”; sau đó ở đó ghi ai đã phê duyệt.

Nếu về sau một nhân viên xử lý đổi một bài đã công bố thì nó quay lại chờ phê duyệt — thay đổi chỉ hiện lại với khách hàng sau lần “Approve & publish” kế tiếp. Ai đã đang chờ mà lưu thêm một lần nữa thì không kích hoạt một e-mail thứ hai.

Trang cài đặt cơ sở tri thức với công tắc “Agents can create entries” đóng khung đỏ.
Công tắc nằm trên cùng ở mục “Settings → Knowledge Base”. Câu bên cạnh nói cái gì phụ thuộc vào nó: bài của nhân viên xử lý phải chờ phê duyệt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Một bài mang dấu “Awaiting review” với nút “Approve & publish” đóng khung đỏ.
Bài này từ nhân viên xử lý Marco Rossi và đang chờ. Một cú nhấp lên “Approve & publish” làm nó hiện ra với mọi người được thấy chủ đề đó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Lịch sử thay đổi của cơ sở tri thức

Ở mục “Settings → Knowledge Base”, thẻ “History” nằm dưới cùng. Nó liệt kê 200 sự việc gần nhất, mới nhất trước: chuyện gì đã xảy ra, bài hay chủ đề nào bị ảnh hưởng, ai làm và làm khi nào.

Bảy sự việc được ghi lại: bài được tạo, được cập nhật, được phê duyệt và bị xóa, cùng với chủ đề được tạo, được cập nhật và bị xóa. Vì thế một bài bị xóa không biến mất không dấu vết — cái dòng vẫn ở lại, kể cả khi bài đã không còn.

Hai dòng cùng lúc không phải một lỗi: khi một quản trị viên tạo một bài thì ở đó ghi “Entry created” và ngay phía trên là “Entry approved” — họ công bố mà không đi vòng qua bước phê duyệt. Với một nhân viên xử lý thì ban đầu chỉ hiện “Entry created”; phần phê duyệt tới sau và kèm tên quản trị viên.

Chỉ ai được phép mở trang cài đặt cơ sở tri thức mới thấy phần lịch sử — mặc định là quản trị viên. Đó là một lịch sử cho cả cơ sở tri thức, không phải mỗi bài một lịch sử.

Thẻ “History” với những dòng như “Entry created”, “Entry approved” và “Topic created”, mỗi dòng kèm một cái tên và một thời điểm.
Trên cùng là bài của nhân viên xử lý còn đang chờ phê duyệt — nó chưa có dòng “Entry approved” nào. Bên dưới là những bài của quản trị viên, mỗi bài kèm cả hai dòng.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Sao lưu & khôi phục

Việc sao lưu có một ứng dụng riêng. Nó đi kèm hệ thống và quá trình cài đặt thiết lập nó, nên không có gì phải mua và không có gì phải cấu hình. Khối này cho thấy nó lưu cái gì, chạy khi nào và bạn lấy lại mọi thứ ra sao khi cần tới. Cả khối này thuộc về Basic.

1

Ứng dụng để sao lưu và khôi phục

Ứng dụng tên là “Ticket System Backup & Restore”. Nó nằm cạnh hệ thống ticket và có lối tắt riêng trên màn hình nền.

Có một bản cho Windows và một bản cho Linux. Đó là cùng một ứng dụng, chỉ được dựng riêng cho từng hệ điều hành.

Nó có năm thẻ. “Restore” liệt kê những bản sao lưu bạn có, “Create Backup” tạo một bản mới, “Schedule” lo phần thời điểm, “Settings” hiện các đường dẫn và “Log” hiện nhật ký.

Phần thiết lập đã được điền sẵn. Ở lần khởi động đầu tiên, ứng dụng tự xác định hệ thống ticket nằm ở đâu.

Thư mục cho các bản sao lưu nằm ở mục “Backup directory”. Bạn đổi nó được, ví dụ sang một ổ đĩa khác.

Thẻ “Restore” với hai bản sao lưu, mỗi bản kèm thời điểm, kích thước và loại.
Khung đỏ nằm trên danh sách. Cột “Type” nói một bản sao lưu đến từ lịch hay được làm bằng tay.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thẻ “Settings” với thư mục, cơ sở dữ liệu và ba volume.
Khung đỏ nằm trên tên cơ sở dữ liệu. Bên dưới là những volume được lưu cùng với nó.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
2

Lịch chạy ngay từ lúc bạn cài đặt

Trước khi bắt đầu: Trên Windows, việc đăng ký một lịch cần quyền quản trị viên. Không có quyền đó thì ứng dụng tạo một tác vụ chỉ chạy khi có người đang đăng nhập, và nó nói cho bạn biết điều đó.

Quá trình cài đặt tự thiết lập việc sao lưu hằng ngày. Nó chạy lúc 23:00 theo đồng hồ của máy chủ.

Lịch nằm trong hệ điều hành. Trên Windows đó là Task Scheduler, trên Linux là dịch vụ cron. Nên không có dịch vụ nào chạy thêm chỉ để sao lưu.

Việc sao lưu không cần ai đang đăng nhập. Trên một máy chủ mà không bao giờ có ai đăng nhập thì nó vẫn chạy.

Dòng bên dưới các nút cho bạn biết tác vụ có thật sự tồn tại trong hệ điều hành hay không. Một ô đã tích chỉ nói lên cái gì đã được lưu.

Các bản sao lưu được giữ theo năm bậc: 14 ngày, 4 tuần, 12 tháng, 4 quý và 5 năm. Một bản sao lưu còn lại chừng nào nó là bản mới nhất trong kỳ của nó ở một trong các bậc đó.

Cái được tính là ngày trên lịch, không phải tệp. Hai bản sao lưu trong một ngày là một ngày.

Những bản sao lưu bạn tạo bằng tay thì không bao giờ bị xóa tự động. Đó là ý nghĩa của số 0 ở mục “Keep manual”.

Nếu bạn đổi lịch thì thay đổi của bạn sống sót qua một lần cập nhật. Quá trình cài đặt chỉ đặt lịch khi chưa có lịch nào.

Thẻ “Schedule” với “Daily” đã tích và giờ đặt là 23:00.
Các khung đỏ nằm trên “Daily” và trên giờ. Câu phía trên nêu cả hai đường: Task Scheduler và cron.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Dòng “Registered with the operating system: yes (Daily)” bên dưới các nút.
Dòng này được kiểm tra lại ở mỗi lần khởi động. Nếu nó ghi “NO” thì không có gì tự chạy — khi đó hãy dùng “Apply schedule” với quyền quản trị viên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Sáu ô lưu giữ: 14, 4, 12, 4, 5 và 0.
Khung đỏ nằm trên các bậc. “Keep manual (0 = keep all)” nghĩa là những bản sao lưu làm bằng tay đều được giữ.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
3

Một bản sao lưu chứa những gì

Một bản sao lưu chứa mọi thứ tạo nên trạng thái hệ thống của bạn. Đó là cơ sở dữ liệu, các tệp đính kèm, kho lưu trữ và các khóa.

Các khóa là phần dễ bị bỏ sót. Chúng giải mã những thông tin đăng nhập đã lưu, ví dụ thông tin của tài khoản thư của bạn. Không có chúng thì một lần khôi phục sẽ quay lại với những thông tin đăng nhập chết.

Mỗi bản sao lưu là một tệp ZIP duy nhất. Nó chứa cơ sở dữ liệu dưới dạng một tệp văn bản, mỗi volume một tệp và một danh sách tổng kiểm tra.

Hệ thống vẫn chạy trong lúc đó. Nhân viên xử lý của bạn hoàn toàn không nhận ra là đang có một lần sao lưu.

“Estimate size” cho bạn biết trước cơ sở dữ liệu lớn tới đâu. Tệp hoàn chỉnh thì nhỏ hơn, vì nó được nén lại.

Không bao giờ có gì bị ghi đè. Mỗi bản sao lưu là một tệp riêng, và chỉ việc dọn dẹp mới gỡ những bản cũ đi.

Thẻ “Create Backup” với hai nút “Estimate size” và “Create backup now”.
Khung đỏ nằm trên cả hai nút. Câu phía trên liệt kê những gì được kèm theo.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Thông báo ở phía dưới với đường dẫn đầy đủ của tệp vừa được tạo.
Sau khi tạo xong, tên tệp hiện ra ở cuối cửa sổ. Thời điểm là một phần của cái tên.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
4

Lấy lại mọi thứ

Trước khi bắt đầu: Một lần khôi phục ghi đè lên trạng thái của hôm nay. Mọi thứ được tạo ra kể từ bản sao lưu đã chọn thì sau đó biến mất.

Trong thẻ “Restore”, bạn chọn bản sao lưu bạn muốn lấy lại. Rồi bạn nhấp “Restore”.

Ứng dụng hỏi trước. Nó nói cái gì sẽ xảy ra: trạng thái của hôm nay bị ghi đè, và ứng dụng khởi động lại các container.

Dấu tích “Wipe target volumes before restore” dọn sạch các volume trước. Nhờ vậy không còn tệp nào sót lại mà lúc bản sao lưu được tạo thì nó chưa tồn tại.

Các bước hiện ra trong thẻ “Log”. Ở đó bạn thấy lần lượt ứng dụng đã làm gì.

Toàn bộ trạng thái quay trở lại. Ticket, bình luận, lịch sử, tệp đính kèm, thời gian đã ghi và cơ sở tri thức đều có lại đúng như tại thời điểm sao lưu.

Sau đó hệ thống lại dùng được. Trên một bản cài đặt nhỏ thì việc này mất chưa tới một phút.

Một bản sao lưu đã chọn trong danh sách, với dấu tích và nút “Restore” bên dưới.
Các khung đỏ nằm trên dấu tích và trên “Restore”. Không có dòng nào được chọn thì cái nút vẫn tắt.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Câu hỏi xác nhận trước khi khôi phục với hai nút “Yes” và “No”.
Câu hỏi nêu cả hai hậu quả: trạng thái của hôm nay bị ghi đè, và các container được khởi động lại.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
Nhật ký sau khi khôi phục, với thông báo “Restore complete.” ở dưới cùng.
Mỗi bước đều có ở đó kèm thời điểm của nó. Ở cuối, ứng dụng báo “Restore complete.”Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
5

Trên một máy chủ không có màn hình đồ họa

Một máy chủ thường không có màn hình đồ họa. Vì thế cùng ứng dụng đó cũng chạy được dưới dạng một lệnh.

Năm lệnh là những gì bạn cần: “backup” lưu, “list” hiện những bản sao lưu bạn có, “restore” lấy một bản về, “schedule” đặt thời điểm và “config” hiện phần thiết lập.

Đằng sau chúng là cùng ứng dụng như trong cửa sổ. Không có con đường thứ hai nào làm việc gì khác.

Ứng dụng nằm trong “/opt/smitey/Backup”. Bạn gọi nó với “sudo” rồi thêm lệnh vào. Các container chạy dưới quyền “root”, nên việc sao lưu cũng cần những quyền đó.

Bạn sao chép được bốn cái ô bên dưới. Chúng bao gồm những gì thật sự cần trong dùng hằng ngày.

Một lần khôi phục ở đây cũng hỏi trước. Nó chỉ chạy khi bạn thêm “--yes”.

Trên máy chủ có một tệp để bạn đọc kỹ về tất cả những chuyện này. Nó tên là “BACKUP-RESTORE.txt” và nằm trong “/opt/smitey”. Nó đi qua phần lịch, từng lệnh và con đường quay lại thêm một lần nữa, theo nhịp của chính bạn. Nó đến bằng ngôn ngữ bạn đã chọn khi cài đặt. Các ngôn ngữ khác nằm dưới “/opt/smitey/docs”.

Hiện những bản sao lưu bạn có

sudo /opt/smitey/Backup/TicketSystemBackup list

Mỗi dòng mang thời điểm, lý do, kích thước và tên tệp. Đó là cùng danh sách như trong cửa sổ.

Hiện lịch

sudo /opt/smitey/Backup/TicketSystemBackup schedule --show

Dòng đầu nêu giờ đã được đặt. Dòng cuối nói tác vụ có thật sự tồn tại trong hệ điều hành hay không. Nếu nó ghi “NO” thì không có gì tự chạy.

Đổi lịch

sudo /opt/smitey/Backup/TicketSystemBackup schedule --daily 23:00 --keep 14

Giờ là giờ của chính máy chủ. “--keep” nói bao nhiêu bản sao lưu hằng ngày được giữ. “schedule --off” tắt việc sao lưu hằng ngày.

Tạo một bản sao lưu ngay bây giờ

sudo /opt/smitey/Backup/TicketSystemBackup backup

Bản sao lưu này được tính là “Manual”. Những bản sao lưu làm bằng tay thì không bao giờ bị xóa tự động.

Một dòng lệnh trên một máy chủ Linux với lượt chạy của “backup” và danh sách từ “list” bên dưới nó.
Ở trên, “backup” chạy qua: lưu cơ sở dữ liệu, lưu ba volume, nén lại. Bên dưới, “list” hiện tệp vừa xong ở vị trí đầu tiên. Những dòng có mũi tên là các lệnh mà ứng dụng tự gọi.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
6

Các bản sao lưu nằm trên cùng một máy

Trước khi bắt đầu: Một bản sao lưu nằm cạnh hệ thống thì không bảo vệ bạn khỏi một lần hỏng đĩa. Hãy sao các tệp sang một nơi khác một cách đều đặn.

Các bản sao lưu là những tệp trong cái thư mục bạn đã đặt. Thư mục đó nằm trên cùng cái máy với hệ thống ticket.

Với những trường hợp thông thường thì như vậy là ổn. Dữ liệu bị xóa nhầm, một bản cập nhật hỏng hay một lỗi trong dữ liệu đều được che chắn.

Nó không giúp gì khi đĩa hỏng. Nếu cái đĩa đã đi thì các bản sao lưu đi theo nó.

Vậy nên hãy sao các tệp sang chỗ khác. Một ổ đĩa mạng, một máy chủ thứ hai hay một kho lưu trữ trong mạng là đủ.

Một tệp đã sao chép thì nạp lại được ở bất cứ đâu. Với “Import backup file…” bạn đưa nó trở lại danh sách.

Thẻ “Settings” với ô “Backup directory”.
Ô “Backup directory” nói các tệp nằm ở đâu. Đó là cái thư mục bạn nên sao chép sang nơi khác một cách đều đặn.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ
7

Trước mỗi lần cập nhật, hệ thống tự lưu lại

Một lần cập nhật tự tạo một bản sao lưu riêng trước đó. Việc đó diễn ra độc lập với lịch của bạn và không cần bạn tích vào đâu cả.

Nó lưu vẫn những thứ như mọi khi: cơ sở dữ liệu, các tệp đính kèm, kho lưu trữ và các khóa.

Bản sao lưu này thuộc về lần cập nhật. Nó nằm trong một thư mục riêng cạnh hệ thống và vì thế không xuất hiện trong danh sách của ứng dụng.

Dòng thông báo trước khi cập nhật nói cho bạn biết điều đó. Bạn không phải nhớ tự lưu lại trước.

Xem thêm trong thẻ: Cập nhật chỉ bằng một nút bấm

Câu hỏi xác nhận trước khi cập nhật với ghi chú về bản sao lưu.
Câu “A full backup is taken automatically beforehand” là một phần của câu hỏi. Bản sao lưu chạy trước khi có gì bị thay thế.Mở ảnh ở kích thước đầy đủ

Những lệnh quan trọng (Linux)

Sẵn sàng để sao chép. Mọi thứ đều với sudo – trình cài đặt và các container cần quyền root.

Cài đặt thứ cần có trước

sudo apt install -y unzip

Không có unzip thì trình cài đặt không giải nén được gói.

Cài đặt hệ thống ticket

curl -fsSL https://files.smitey.eu/download/get-smitey.sh | sudo bash

Tải gói về và dẫn bạn qua các câu hỏi. Chạy lại lần nữa thì vẫn an toàn: cấu hình và dữ liệu được giữ nguyên.

Kiểm tra HTTPS

sudo /opt/smitey/smitey-install check-https

Chỉ với một tên miền công cộng. Cho bạn biết chứng chỉ đã có hay chưa – và nếu chưa thì nêu lý do lấy từ nhật ký. Chứng chỉ vẫn có thể tới vài phút sau khi cài đặt.

Tra lần đăng nhập đầu tiên

sudo cat /opt/smitey/SMITEY-credentials.txt

Sau lần đăng nhập đầu tiên, hãy đổi mật khẩu và xóa tệp đó đi.

Các container có đang chạy không?

sudo podman ps

Hiện mọi phần của hệ thống kèm tình trạng của chúng.

Theo dõi nhật ký

sudo podman logs -f container-backend-1

Hiện trực tiếp những gì phần nền báo về. Dừng lại bằng Ctrl+C.

Kiểm tra supervisor

systemctl status smitey-supervisor

Dịch vụ này giữ cho hệ thống chạy và áp dụng những bản cập nhật bạn kích hoạt bên trong ứng dụng.

Tạo một gói hỗ trợ

sudo /opt/smitey/install.sh --support-bundle

Thu thập nhật ký và trạng thái hệ thống vào một tệp zip. Mật khẩu và khóa đã được loại bỏ.

Đổi địa chỉ công cộng

sudo /opt/smitey/install.sh --reconfigure

Đặt một tên miền mới rồi khởi động lại, để chứng chỉ được yêu cầu cho cái tên mới.

Gỡ bỏ nó

sudo /opt/smitey/install.sh --uninstall

Hỏi riêng về dữ liệu và riêng về Podman – không có gì bị xóa mà không hỏi.

Việc sao lưu do /opt/smitey/Backup/TicketSystemBackup đảm nhận (list, backup, restore); việc sao lưu hằng ngày thì tự chạy. Chi tiết nằm trong /opt/smitey/docs/en/BACKUP-RESTORE.txt.

Quay lại bảng so sánh tính năngẢnh được chụp từ phiên bản 0.46.0.