Mẫu trả lời: phần chữ + thao tác trên trường (trạng thái, việc giao, mức ưu tiên …) trong một lần chọn
Trước khi bắt đầu: Quản lý và áp dụng là hai quyền khác nhau. Quản trị viên và nhân viên xử lý ngay từ đầu làm được cả hai. Việc áp dụng thì mở cho bất cứ ai được làm việc trên ticket. Các thao tác của một mẫu còn cần quyền điều hướng ticket, nên một nhóm đã giữ ticket trước đó được bình luận nhưng không chạy được thao tác. Kể cả khi một vai trò không quản lý được phần cài đặt, nó vẫn áp dụng được một mẫu.
Mẫu nằm ở mục “Settings → Templates”. Dòng bên dưới tiêu đề nói chúng làm gì và không làm gì: “Reply templates fill the comment editor and suggest field actions. Nothing is sent automatically.” Một mẫu là một nước đi đã chuẩn bị sẵn, không phải một cỗ máy — bạn luôn là người tự gửi.
Có hai loại và bạn chọn một loại khi tạo: “Add reply template” cho câu trả lời trên một ticket đang mở, “Add ticket template” cho biểu mẫu tạo ticket. Về sau không đổi loại được, vì loại quyết định biểu mẫu hiện ra những trường nào. Cái nhãn phía trên mỗi mẫu cho bạn biết bạn đang nhìn cái nào: “Reply template” màu xanh dương, “Ticket template” màu xanh lá.
Một mẫu trả lời gồm phần chữ trả lời (“Reply text”), ô đánh dấu “Internal note” và bao nhiêu thao tác tùy ý. Có sáu thao tác: “Set the status”, “Set the priority”, “Assign to a user”, “Remove the assignee”, “Hand over to another team” và “Set a follow-up”.
Danh sách “Assign to a user” bắt đầu bằng mục “The agent who applies it”. Hãy lấy mục đó khi nhiều người dùng chung một mẫu: khi ấy ticket thuộc về người vừa áp dụng nó, chứ không thuộc về một người cố định trong danh sách. “Set a follow-up” hỏi một con số và một đơn vị (phút, giờ, ngày, phút làm việc, giờ làm việc, ngày làm việc) cùng với ghi chú mà sau này sẽ cho bạn biết vì sao ticket quay lại.
Cái ô xanh ở cuối mỗi mẫu viết ra trong một câu rằng nó sẽ làm gì — ví dụ “Inserts the text as a public comment, sets status to Waiting for Service Provider Response, assigns to the applying agent, sets a follow-up in 3 days.” Câu đó tự dựng lại trong lúc bạn sửa. Nó là phép đối chiếu của bạn: nếu nó nói khác điều bạn định làm thì có một thiết lập sai.
Phần chữ không bắt buộc. “Chuyển việc này sang nhóm mạng mà không viết một chữ nào” là một mẫu hợp lệ — khi đó câu tóm tắt ghi “Suggests actions without a reply text”. Thao tác “Set the status” tuân theo cùng các quy tắc như một lần đổi trạng thái bằng tay. Khi áp dụng cho nhiều ticket cùng lúc, mẫu sẽ bỏ qua những ticket bị khóa và nêu lý do.
Cửa sổ “Close ticket” cũng đưa ra các mẫu trả lời, trong trường “Template”. Nó chỉ liệt kê những mẫu có thao tác “Set the status” đang bật đặt một trạng thái được tính là đã xử lý hoặc đã đóng. Các mẫu nội bộ không được đưa ra ở đó. Nếu bạn chọn một mẫu, cửa sổ sẽ lấy phần chữ của mẫu làm bình luận. Nếu mẫu gửi thư và cửa sổ có cho gửi thư, nó chỉ lấy người nhận khi người đó là “Requester” hoặc một địa chỉ cố định. Các thao tác khác và các tệp đính kèm của mẫu không chạy ở đó. Ticket được đóng như thường lệ.













